Skip to content

Bài viết trong chuyên mục: Văn & Sống

Miyoko tuổi gần 30. Cô có chồng, 2 đứa con, và một thân hình nhỏ nhắn.

Hồi nhỏ, cô ước ao được múa. Nhưng ước ao này huyễn ảo hơn là thực tế. Thực tế, cô chưa bao giờ thử kiễng chân lên như một người múa. Cũng chưa bao giờ để mặc những gót chân nhún lên theo những điệu múa trong tưởng tượng. Miyoko nhỏ nhắn đến mức tự cho rằng mình không thể nào sẵn sàng cho việc tìm đến một người thầy để xin học. Càng không phải một cô gái để đứng trên sân khấu, phô diễn tâm hồn đầy thăng hoa trong những điệu múa, và hoá mình tuyệt đối trong một tình yêu mãnh liệt, nơi có những người xem mà cô sẽ đầy biết ơn.

Thực tế, cô là một thợ may. Bàn tay nhỏ nhắn giúp cô khéo léo với những đơn hàng nhỏ lẻ. Cứ như vậy cô sống. May vá, giặt là, chợ búa, dọn dẹp… là cuộc sống của cô. Những bữa ăn với người chồng và hai đứa con. Những con đường khi mưa khi nắng, dưới những tán anh đào xuyên suốt bốn mùa để đem đồ may tới cho khách hàng, là bức tranh thường nhật của Miyoko.

Một ngày, đoàn múa Mặt Trăng lần đầu đến với Kyoto. Miyoko được hẹn đem đồ may đến cho một vũ công. Đoàn múa Mặt Trăng nghèo, nhỏ, và khiêm tốn, không mấy tiếng tăm nhưng lại khá quen thuộc với ít nhiều khán giả đứng tuổi. Hôm ấy, Miyoko đứng bên ngoài tấm rèm của căn phòng tập như một kẻ vụng trộm, và tận mắt xem người ta tập múa. Cô lặng đi. Một sự rung động trong sâu thẳm, nhưng không tài nào cất tiếng. Miyoko mất nhiều giây lát để nắm giữ lại hơi thở, và rồi bật khóc. Sau khoảnh khắc như hớp hồn, Miyoko rên lên trong tim cảm khái về chất vị của chiều sâu khôn cùng của nghệ thuật…

Miyoko không biết. Cô không thể giải thích, cũng chẳng dám giải thích. Cô chỉ biết mình vừa trở về từ một sự hoà đồng tuyệt đối với những bước chân và điệu múa. Dù không có một trình độ, nhưng Miyoko biết mình đã đi vào một chiều sâu và trở về. Chỉ đơn giản là vậy.

Nhận thấy vẻ mặt và ánh mắt khác thường của Miyoko, người vũ công mà đặt may quần áo đã dành cho Miyoko một buổi trò chuyện cởi mở về nghề múa của mình. Không ngờ sau đó, họ đã chia sẻ một đồng cảm sâu sắc. Người vũ công này tên là Mori. Mori gợi ý cho Miyoko việc bắt đầu học múa. Mori giúp Miyoko gỡ bỏ e ngại bằng việc cho cô xem khiếm khuyết nơi bàn chân của mình: hơn một ngón chân đã vắng mặt từ lâu.

Miyoko xúc động, không ngừng rơi nước mắt. Kể từ khoảnh khắc đó, bức tranh cuôc sống của Miyoko mang một sự thay đổi, lặng lẽ, mà lớn lao.

Dần dà, từ việc chỉ bắt đầu như một người tham dự dè dặt, những biểu hiện đáng kinh ngạc của Miyoko khiến cô đã đến được với người thầy của Mori. Ông Higuchi là một bậc thầy. Ông âm thầm và khiêm tốn, nhưng chẳng dành cho ai quyền đánh giá về mình. Với ông, đỉnh cao nghệ thuật phải nằm trong nội tâm. Nhận thấy Miyoko như một hạt mầm, Higuchi nhận trao truyền nghệ thuật múa cho cô. Dầu Higuchi đã nghĩ, sự việc này không phải để dẫn tới sự sinh ra một nghệ nhân múa mới, mà có thể, Miyoko mãi mãi không bao giờ bước lên sân khấu. Nhưng Higuchi đã xác quyết về việc mình làm, dù không kèm theo một động cơ hợp lý. Ông chỉ nghĩ, múa cũng vậy, đã bắt đầu giai điệu, thì đôi chân sẽ cử động, xoay, múa, và thăng hoa…

Miyoko học múa chung với cả lũ trẻ. Sự nghiêm túc và tài năng của cô khiến cho người thầy mỗi ngày thêm một ngỡ ngàng. Dầu không đặt mục tiêu khổ luyện. Ấy vậy mà, cả Miyoko và thầy cô đã bị cuốn vào luồng khi nào không hay. Trong lặng lẽ, bức tranh cuộc sống của cô thợ may Miyoko thêm những đường nét mới.

Miyoko luyện tập tới nôn ói. Bàn chân toé máu, những vết chai sần dày lên theo thời gian. Ở ngưỡng tuổi 30, sức khoẻ và gân cốt không còn ủng hộ cô. Nhưng Miyoko dường như không lưu tâm một chút nào. Ngã, cô đứng dậy. Chảy máu, cô băng lại. Đau, cô trải qua nó với sự bình tĩnh và kiên định như từ trên trời rơi xuống. Tâm hồn cô hầu như chỉ biết đến luyện tập và thăng hoa.

Vào một ngày rất lâu, rất lâu, sau cuộc gặp quyết định với Higuchi, cô thợ may Miyoko vẫn vậy, nhỏ nhắn, và gày gò hơn nữa, đã trở thành một cô gái múa thực thụ. Ở nơi Miyoko, những ước lệ không còn hiệu nghiệm. Khoảng thời gian ước định mà một nghệ nhân múa cần để khiến mình trở thành, đã trở nên linh động không thể nắm bắt đối với Miyoko. Miyoko mang một chiều sâu không tuổi. Dường như cô có một sự tự do nào đó khác với chúng ta. Khi thời khắc chín như trái cà chua lịm đỏ, khi mây đã đổ mưa và nắng rào lên mặt đất, thì chẳng định kiến nào giữ nổi hiệu lực. Thay cho nỗi ngần ngại bao năm trở về trước, giờ Miyoko thực sự là một cánh cửa mở. Chẳng sự e ngại nào kiềm giữ nhịp chân con thiên nga ấy, chẳng định kiến nào ngăn cản đôi cánh ấy giang bay như sự phô diễn viên mãn những sắc màu ánh sáng. Miyoko đã hoá giải nghi ngại âm thầm trong bao năm của Higuchi. Và một ngày đẹp trời, ông tuyên bố Miyoko sẽ bước lên sân khấu lần đầu tiên như một thành viên chính thức của Mặt Trăng. Và điều đặc biệt hơn cả, Higuchiđã dành cho Miyoko một điệu múa mà cô sẽ là nhân vật chính, điệu múa mang tên: “Vũ điệu”.

Sau bao nhiêu năm trời, Mặt Trăng vẫn là một đoàn múa nghèo, nhỏ, và khiêm nhường. Hôm ấy, Mặt Trăng công bố biểu diễn với sự xuất hiện đặc biệt của Miyoko. Tuy không có quy mô lớn lao và quảng cáo rầm rộ. Nhưng với thực lực và sự quen thuộc lâu năm với lượng khán giả nhất định, buổi diễn hôm ấy đã có rất nhiều người đến với Mặt Trăng, chờ đón thưởng thức sự cống hiến của một nghệ nhân chưa bao giờ xuất hiện.

Trước khán phòng kín chỗ, Higuchi giới thiệu về Miyoko, một cô gái múa lạ kỳ. Dầu không định trước là sẽ nói thật nhiều, nhưng niềm xúc động đã dẫn dắt Higuchi nói nhiều hơn ông đã tưởng. Và sau lời kết, ông khóc. Khán phòng lặng im.

Âm nhạc nhẹ nhàng, từ từ vang lên. “Vũ điệu” bắt đầu….

Cả khán phòng im lặng, lắng hồn vào trong âm nhạc. Trăm đôi tai, trăm đôi mắt, và cả trăm tâm hồn, tất cả quyện hoà cùng vũ điệu.

Bỗng, đâu đó từ giữa nơi khán giả, khẽ bật lên tiếng nức nở, như những giọt âm thanh từ giếng sâu vô tận. Tiếng nức nở mau dần xen lẫn tiếng nấc, nhịp nhàng ti tỉ như ai đó đang không tài nào ngăn hãm được niềm xúc động. Chung quanh là bầu im lặng chứng nhân. Cả khán phòng hướng về phía tiếng khóc. Nửa tò mò nửa rung động, không ai nỡ chen vào một âm thanh khác. Đồ rằng ngay cả những trái tim cũng không nỡ đập những nhịp riêng rẽ, mà tất cả như cùng một mạch thở. “Vũ điệu” vẫn thăng hoa và giai điệu như lắng dần về một thứ im lặng như chất nền tinh tế của mọi hoà quyện.

Đó là tiếng khóc của Miyoko, một phần linh hồn của cô đang lặng lẽ như một “người xem” dưới khán đài. Tiếng thổn thức dài mãi, không to không nhỏ, ti tỉ và bất tận. Cô dõi theo điệu vũ, và niềm hạnh phúc chín muồi của Higuchi. Cô chứng kiến hoá thân của cô gái Miyoko như đoá hoa diên vỹ hiến mình trong vũ điệu. Những tháng năm đã qua cất lên tiếng hát của mình. Những điều kỳ diệu hiển bày đậm nét trước một Miyoko vừa nhận ra mình như một chứng nhân vĩnh cửu.

Cô gái Miyoko tiếp tục múa. Từ đôi mắt cô, cuộc sống và nội tâm không còn ngăn cách. Dưới khán đài, những khán giả cũng dần bật khóc, như một sự lan truyền. Chỉ biết, những giọt nước mắt lung linh trong một tối khuya, đã làm nên một thứ ánh sáng cho góc phố nơi gánh múa Mặt Trăng biểu diễn. Thứ ánh sáng mà chỉ Miyoko mới thấy. Hoặc có thể, ai đó khác cũng sẽ thấy, nhưng chắc chắn, phải là những tâm hồn im lặng, hơn nữa, còn phải là những kẻ ngủ khuya nữa…

(Truyện ngắn đầu tiên, 27-11-2018)

Chia sẻ:
Bài thơ "Trời sẽ sáng"

Những nốt giáng cuối cùng
Sẽ thay bằng nốt thăng
Những bóng đêm cuối cùng
Sẽ thay bằng ánh sáng

Những tình đời ai oán
Sẽ thay bằng cụng ly
Con khỉ cười khì khì
Ngay sau dòng nước mắt

Những tin vui lượm lặt
Về theo nhau trên đường
Những nếp nhà cô đơn
Kề nhau trong đêm vắng

Ai đêm thâu thức trắng
Sẽ tròn giấc thuỵ miên
Ai mong mỏi an nhiên
Sẽ về nơi suối mát

Tâm hồn ai lưu lạc
Sẽ tìm thấy quê hương
Trái tim thiếu tình thương
Sẽ lấp đầy hạnh phúc

Vết thương sẽ thôi thúc
Nở ra những vần thơ
Tình yêu sẽ bất ngờ
Mọc lên từ gỗ đá

Từ đớn đau vất vả
Toát những giọt kim sa
Từ mắt ai nhạt nhoà
Sáng lên đầy hy vọng

Mọi ước ao trông ngóng
Sẽ thoả nguyện đầy tay
Tóc em sẽ nhẹ bay
Trong nắng thu hồng nhạt

Hãy an lành ca hát
Bởi bên cạnh có ta
Hãy ngủ ngon nhé và
Đừng quên, trời sẽ sáng... 
(26-10-2021)

Để đáp lại câu hỏi của một bạn đọc vì sao lại có hình ảnh “Con khỉ cười khì khì” ở khổ thơ thứ 2, tôi xin phép viết đôi chút tự sự về bài thơ. 🙂

Bài thơ “Trời sẽ sáng”, được viết trong sự chuyển giao tâm trạng của tôi, giữa ưu tư và hy vọng. Sự chuyển mình đó như một nốt luyến nhỏ, trên nền nhạc muôn thủa của nhân gian, nơi ai cũng chứng kiến mình cùng vạn hữu, trải qua muôn trùng những vòng lặp, giữa “đêm” và “sáng”, giữa “giáng” và “thăng”.

Thế, nên trong suốt bài, những hình ảnh thường tượng trưng cho sự đối lập, và chuyển pha giữa các cung bậc, cũng lần lần hiện ra trong tâm trí tôi. Có lẽ, người viết của một bài thơ, lại là người sẽ yếu nhất trong khả năng phân tích tính “logic” trong bài thơ của mình. Chắc tôi cũng như vậy. Thay vì diễn đạt được thật rõ tính hợp lý của mọi chi tiết, tôi lại chỉ có thể thiết tha nói rằng: “Tôi đã cảm thấy như vậy!”. Nếu khi đó, tâm của tôi hướng về logic, có lẽ, nó sẽ tạo ra những câu thơ khác. Nhưng, “Trời sẽ sáng” là bài thơ dường thuần tuý cảm xúc, và tâm cảm của tôi khi ấy, dường tự chọn từ ngữ để biểu đạt mình.

Vì thế, thay vì giải thích sự xuất hiện của “con khỉ” một cách hợp lý, tôi lại xin phép thiên về diễn đạt tâm cảm của mình hơn.

Khi những trầm ưu… “chín tới”, thì, bất khả tránh né, cung đường của nó sẽ là dồn nén trĩu nặng và gồng nén tới mức, tại một ngưỡng nào đó, lại chuyển mình sang pha đối lập. Tại thời điểm, khi những hy vọng bắt đầu loé lên, khi những thanh bình bắt đầu mở cửa, thì, ngay sau những gánh gồng của tâm trí, lại là sự đến bất ngờ của những âm thanh, hay hình hài “đối trọng” với sự trì nặng vừa chớm qua. Nên, để “đối trọng” sự ai oán của tình đời, thì hình ảnh “cụng ly” đã thay thế, vừa vui vui, vừa mang hàm ý hoà bình, hoá giải. Đến lượt con khỉ và tiếng cười khì khì của nó, kiểu khóc lóc nửa cá sấu, nửa “nghiêm trọng” đầy đáng thương của nó, cũng rất nhanh, đã “điểm danh” trong tâm trí tôi. Dù bất kể vì sao, thì nó cũng thật đã xuất hiện, khiến ai đang ưu tư chắc cũng phải bật cười, vì thế, mà…biến veo một miền ưu cảm.

Thế nên mà nó đã xuất hiện, tại “phần ngọn” là lời. Còn phần gốc, đó chính là bởi trong “não” tôi, đã tự hướng mình về phía của nhẹ tênh, của nụ cười, của lạc quan, và của hy vọng. Nhưng, cũng đâu dễ dàng lắm. Khi xoá một màu nâu, dù có tô bằng trắng, thì ban đầu, trắng vẫn mờ, và nâu vẫn đậm. Khi thay giáng bằng thăng, cũng phải có nốt luyến. Phiền ưu cũng có quán tính, nên những mâu thuẫn, những “đừng” và “hãy”, những do dự trong hồn ngay cả khi tâm đã xác quyết, vẫn không ngừng đẩy đưa, chao động. Nên, “con khỉ” đâu chỉ cười khì khì mà thôi, còn có cả nước mắt nữa. Trong câu thơ này, vừa có hình ảnh vui, là con khỉ cười khì khì sau dòng nước mắt, vừa lại không chỉ là như thế. Dòng nước mắt ấy, của con khỉ cũng có, và của…tôi cũng có. Tôi khóc, xong nó cười. Nó cười, và tôi cũng cười…theo nó. Tôi cười sau nước mắt của mình. Đó là giây khắc khi nặng trĩu được hoá giải, “trầm trọng” bỗng… “nhẹ tựa mây”. Đôi khi chúng ta thấy, nhiều phiền não của chúng ta cũng…đáng bật cười lắm, thật mà!

Đương nhiên, ngoài những “sự” trên, thì còn một sự nữa góp phần cho “con khỉ cười khì khì” ở đó, đó là sự thuận vần với “cụng ly” ở dòng trên. Nhưng tới đây, tôi chẳng thể giải thích được hơn nữa. Chỉ biết, rất nhanh trong tâm cảm, con khỉ đã “xẹt qua”, kịp khóc, và lại kịp cười trong tôi như vậy đấy! 🙂

Và, những tương phản giữa nặng và nhẹ, giữa trầm và thăng, tiếp tục đan xen trong những khổ kề sau.

“Những tin vui lượm lặt
Về theo nhau trên đường
Những nếp nhà cô đơn
Kề nhau trong đêm vắng…

…Mọi ước ao trông ngóng
Sẽ thoả nguyện đầy tay
Tóc em sẽ nhẹ bay
Trong nắng thu hồng nhạt”

Tới đây, nốt luyến của tôi, đã không đơn lẻ nữa rồi. Nó đã được thấy, cùng sự chuyển mình rộn ràng, mạnh mẽ, khắp khắp nhân gian. Bây giờ, là sự nương vào quy luật biến dịch của nhân gian, cho chúng ta được thốt lên những lời nguyện mong tốt lành cho nhau.

Nào, cùng tôi đọc khổ cuối nhé:

“Hãy an lành ca hát
Bởi bên cạnh có ta
Hãy ngủ ngon nhé và
Đừng quên, trời sẽ sáng…”

Lúc này, cái vui, niềm hy vọng, đã sắp “chín” như mặt trời trước ngưỡng bình minh. “Ta”, chính là tôi khi này, đã rất xả lòng để đi vào giấc ngủ. Không chỉ đã thấy lại niềm tin yêu, và lạc quan cho mình. “Ta”, còn thấm được sự an lành đến nỗi, tưởng chừng có thể đem nó mà trao đi trong gió, mà ru hời, mà vỗ về, và khích lệ nhân sinh. Vì thế, mà “ta” đã “xin” mọi người “hãy an lành ca hát”, như một trấn an, mà chẳng thể đưa ra một căn cứ “bảo kê” nào, ngoài nói rằng:

“Bởi…
bởi…
bởi bên cạnh có ta”

Cũng không sao! Dù thế nào đi nữa, khi một tâm hồn trở nên an lành, thì tôi tin, nó cũng có thể góp được sức của mình, vào sự an lành và bình yên, cho tất cả…

(28-10-2024)

Chia sẻ:
Bài thơ "Chiều sân ga"
Hà Nội mùa thu
Mai mua bánh cốm
Lặng đi bên chàng
Tiễn đến sân ga

Chẳng ai nói ra
Một lời từ biệt
Mỉm cười trên miệng
Hiu hắt trong tim

Anh cũng im lìm
Và Mai cũng thế
Tiếng còi nhe nhẹ
Giục khẽ bên tai...

Ga chiều đợi ai
Nén từng hơi thở
Đoàn tàu nhắc nhở
Hành khách cuối cùng

Và rồi, cuối cùng
Anh rồi cũng nói
"Anh về Nam nhé
Mai mạnh giỏi nghe"

Tàu chuyển bánh xe
Mai dồn nhịp bước
Không sao thốt được
Mắt chẳng rời nhau

Tàu lướt thêm mau
Bất ngờ Mai chạy
Bàn tay vội vã
Nắm kịp tay anh

"Mai, hãy nghe anh
Mùa thu còn mãi
Mùa thu còn mãi
Hãy về đi em!"

Mai nhìn theo anh
Tàu đi xa mãi
Mai gọi tên anh
Tàu đi xa mãi

Sân ga khuất dần
Lòng anh tê tái
Anh gọi tên Mai
Chẳng gì vọng lại...

Bài thơ này tôi viết năm 2018. Là một trong những bài thơ tôi rất thích. Không hiểu sao, tôi rất rung động trước những mối tình Nam Bắc, mà người anh là con trai Sài Gòn, người em là con gái Hà Nội.

Trong tưởng tượng của tôi, luôn có hình ảnh một người con trai ưu trầm, lặng lẽ, và người con gái nhẹ nhàng, mơ mộng. Họ yêu nhau, một cái yêu ngại ngùng, ngút sâu và khó hiểu, như những gió mùa thu.

Bài thơ là chuyện kể, về một mối tình như thế. Nó là mối tình, mà không phải cuộc tình. Bởi mối tình này không đầy vẹn. Nó như những xúc cảm tình yêu không bến đỗ, táp vào tim vừa ào ạt, vừa chập chờn, mà chính ngay đôi trai gái cũng còn không hiểu nổi. Nó, có chăng là nhớ thương, từ tiềm thức tạc vào tháng 9, vang động tâm hồn người con trai, người con gái, tới tấp nhanh, tới tấp sâu, để rồi chính họ không kịp nhận ra, và dặt dè đối diện.

Để rồi, chẳng ai đã nói, chẳng một lời yêu đã thốt ra. Chỉ có im lặng, cho đến buổi chia ly…

Bài thơ là câu chuyện yêu ngắn ngủi. Đến giây phút cuối cùng chia ly giữa sân ga, khi đoàn tàu đã chuyển bánh và cất lên lời giục, thì tiếng lòng vẫn phong kín trong tim. Hình như, đây cũng là “cách yêu” của nhiều đôi trai gái. Mơ hồ mà day dứt, thiết tha mà không ai thừa nhận. Cho đến khi, cho đến khi, tiếng còi tàu giục giã. Có lẽ khi ấy, nhịp tim và tiếng lòng cũng rần lên như thế, nhưng hai tâm hồn vẫn không thể…

…đánh rơi sự im lặng.

Cho đến khi, cho đến khi…

…đoàn tàu giục hành khách cuối cùng…

…Anh đã bước lên toa…

Thì trong tưởng tượng của tôi, vẫn thấy anh đứng nơi cánh cửa, nhìn Mai, nhìn Mai với ánh mắt như muốn thoát ra ngàn lời. Còn Mai, bước chân hối dần với nhịp chuyển bánh xe, đôi mắt vẫn lặng im nhưng trái tim ùa tới. Nhưng, hình như đâu đó cô vẫn chờ, một phá vỡ, một phá vỡ, nơi nỗi lòng ngăn ngại.

Và rồi, cuối cùng, sự chờ đợi ấy cũng nghe anh nói:

“Mai mạnh giỏi nhé, anh về Nam nghe”

Anh đã mở lời. Nhưng tiếc thay, đó là một lời chia tay, và chúc nhau mạnh giỏi. Điều gì sau lưng đó, đã bị anh ghìm lại. Phải thế chăng?

Nhưng…

Cô gái dù vẫn lặng yên không nói, nhưng bước chân đã thúc giục trái tim. 1, 2, 3, rồi cô bất ngờ chạy, vội vã theo kịp nắm lấy tay anh. Nó có nghĩa, bàn tay anh cũng đã ở sẵn, và đợi chờ Mai tự bao giờ.

Cái nắm tay của Mai như sự vỡ oà xâm chiếm tim anh, khiến nó thốt lên: “Mùa thu còn mãi! Mùa thu còn mãi!”

Nhưng, rồi sao nữa. Tôi cũng không biết, đó là một lời nhắn gửi, một lời hẹn dành cho Mai. Hay sau câu nói “Mùa thu còn mãi”, sẽ chỉ là khoảng trống, vô biên bất tận?

Tại sao, anh không xuống khỏi đoàn tàu? Tại sao? Anh không xuống với Mai, để hai người bắt đầu một câu chuyện tình? Điều gì còn giữ anh lại? Phải chăng, sự phong kín đã in vào tiềm thức, khiến trong giây phút đó, sự vỡ oà cũng chẳng thể lớn hơn một nhịp thốt trong tim. Anh vẫn quay về Nam, để lại Hà Nội, để lại Mai như hình ảnh sau lưng, như những chuỗi ngày mến thương trong tâm cảm. Liệu, mùa thu sẽ nối tiếp trong tình yêu của họ, hay nó sẽ “còn mãi”, nhưng chỉ trong một ký ức xa, trong một niềm thương nhớ…

Tôi không hiểu, và Mai cũng thế.

Để rồi,

“Sân ga khuất dần

Lòng anh tê tái

Anh gọi tên Mai

Chẳng gì vọng lại. . .”

Rồi thì, anh đã gọi tên cô. Nhưng, đó chỉ là tiếng thầm gọi nơi cõi lòng day dứt. Ích gì đâu, tàu đã rời ga. Giữa anh và Mai, chỉ còn một bầu trời khoảng trống. Một cánh cửa cuộc đời, lặng lẽ ngang qua…

Có lẽ, trong cuộc đời, đâu đó có rất nhiều tình yêu dở dang, những tâm hồn do dự. Thậm chí, người anh trong bài thơ này, ai nói chắc, là anh ấy không tự đưa mình vào cảnh chia ly như một phương cách làm nên sự đã rồi, để rồi dẫu day dứt khôn nguôi, vẫn hơn là đối diện. Một đặc tính của tình yêu, của hồn người, cũng chính là khó hiểu, mâu thuẫn, và đầy nghịch lý. Hoặc có lẽ, tình yêu bên trong hai con người này, khuyết chứ chẳng đầy. Hoặc, nó chỉ là thứ tần sóng mùa thu, thiết tha và bất diệt, để rốt cùng, họ chọn yêu nhau trong – hoài – niệm – mà – thôi…

(2-10-2021)
Chia sẻ:
Bài thơ “Dặn thu” 

Nếu mùa thu đang buồn 
Thì cốm cũng bớt xanh 
Nếu hoa cúc vàng chanh 
Nghĩa là thu còn bé 

Lớn nhanh thì sao thế 
Thì cúc sẽ vàng ươm 
Nắng sẽ xâu hạt cườm 
Khen mùa thu xinh quá 

Gió sẽ vờn kẽ lá 
Mỗi lúc mùa thu vui 
Mưa sẽ lã chã rơi 
Mỗi khi mùa thu khóc 

Này thu sao phải khóc 
Để cho phố nhoà mưa 
Cho đôi mắt ai mơ 
màng buồn không duyên cớ 

Thu, sao mà nức nở 
Có phải vì yêu không 
Có phải đã đem lòng 
Thương mến rồi nhân thế 

Nếu thật là như thế 
Hãy để mặc mưa buông 
Trên khắp những con đường 
Đừng ngăn niềm nức nở 

Cho mưa ôm lấy phố 
Cho phố đắm trong mưa 
Yêu mà, ai cũng thế 
Đừng xấu hổ nghe chưa 

Nhưng, xong thì nín nhé 
Đừng mưa mãi đấy nghe 
Cho phố phường lên nắng 
Trẻ con thôi khóc nhè 

Cho ta không buồn nữa 
Vì phơi áo chẳng khô 
Cho ta thôi thẫn thờ 
Khi sân đầy lá rụng 

Cho ta thôi ngờ vực 
Thu hay mình già hơn 
Thôi, nắng lên đi nhé 
Đừng tin theo nỗi buồn.
(11-10-2021)

***

Khi tôi đăng bài thơ “Dặn thu”, có độc giả đã gửi bình luận gồm 4 dấu chấm hỏi ;). Tôi hiểu rằng, độ khó hiểu nào đó của bài thơ đã được “cứu xét” tới.

Chưa biết nên trả lời bạn ra sao, tôi bèn tính, hay mình tự sự đôi chút về bài thơ, để độc giả có thể hiểu hơn ít nhiều.

Thực ra, tôi chưa từng làm một bài thơ với chủ đề định trước. Ngay cả khi đã “dự liệu” được tên bài, nhưng, mười lần như một, tôi luôn phải để trống phần tên bài như một “thủ tục tâm lý”, khi nào viết xong hết, mới được điền vào. Bằng không, tôi sẽ “đóng băng” không thể viết. Có lúc, “buột” ra cái tên hay, nôn nóng gõ vào, vậy mà rồi lại phải xoá đi, không thì thơ không chịu “diễn biến” nữa.

Nên, nhiều bài thơ của tôi rất dài, và hồn cốt (hay cảm xúc) tuy được “phác” lúc ban đầu, nhưng “mạch truyện” lại luôn “cập nhật” tức thời cùng mọi dòng chữ. Nó không là gì khác ngoài “mạch của tâm”. Tất nhiên, mạch của tâm thì cũng phải có “cốt”, nhưng cốt đó nhiều khi, mảnh và ẩn sâu đến độ, làm khó người đọc…là có thật.

Nhưng, cái “kỳ cục” của thơ chứ không phải văn, là người đọc trước khi diễn giải “logic” để nắm bắt “cốt truyện” một cách hiển lộ, thì, trong “địa phận” linh cảm nào đó, người ấy đã “uống trọn” rung cảm tổng quát của bài thơ rồi. Mạch tâm của người đọc, cũng vô hình đồng thuận với mạch tâm của người viết, dù tâm trí còn trì hoãn, hãn muốn một vài ngừng lại, để cắt nghĩa rõ ràng, hay để chút băn khoăn.

Bài thơ “Dặn thu”, cũng là một bài thơ thiên về “mạch của tâm”, tức cảm xúc, hơn là “mạch của trí”. Nên, nó không giống lắm những bài thơ mang một hàm ý cụ thể, một ý nghĩa triết lý, một nhận thức đời sống, hay một ý nghĩa sâu xa, mà nói ra được cho rõ ràng. Thế nên, nếu như được đọc bởi một lực truy cầu ý nghĩa, thì “ý nghĩa” của bài thơ lại như cọng rêu mỏng dưới làn nước, càng chạm, càng lùi lại, chỉ sủi lên những lăn tăn mà thôi.

Thực tình, tôi hay làm thơ vào mùa thu lắm. Đơn giản, vì mùa thu hàm xúc quá. “Dung môi thu” chứa chan ngập tràn, động tí là chạm hồn người. Nay chạm xúc cảm này, mai chạm xúc cảm khác, tuỳ “đôi mắt trần gian” đương thấm đượm những gì.

Bài thơ “Dặn thu”, thì không có gì to tát cả. Tôi còn nhớ khi đó, tôi buồn, một cái buồn…rất thu. Nó không gay gắt khổ đau, mà man mác ủ quanh tâm cảm, làm nên một cô đơn. Rồi, bất giác, cảm thức buồn không chịu ẩn náu nữa, nó buột khỏi tim, tìm đường thoát ra qua tâm trí. Tôi, buột miệng thốt: “Mùa – thu – đang – buồn”. Khi ấy, tôi “làm như”: mình là thu, thu là mình đấy. Trong giây lát, tôi như “tuột xích” một ghìm giữ. Mắt xích đầu bị rớt, vậy là, mắt xích sau cứ thuột luột rơi theo. Tôi bỗng muốn “tuyên bố” với mùa thu, rằng tôi đang buồn lắm. Và, vì nhầm lẫn, mình là thu, thu là mình, nên khi “linh cảm” ùa tới, tôi “nhập vai” vào thu, lúc thì hai trong một, lúc thì, một lại phân hai lúc nào không hay. Như thế, câu thơ đầu tiên gõ xuống:

“Nếu mùa thu đang buồn…”

Đến đây, thì “sóng thơ” nó bắt đầu “e hèm” với tôi rồi. Như sương muốn trĩu xuống bầu không khí. Và “não” tôi lúc đấy, chỉ tìm cách rót cho ra cái tâm cảnh, như người miêu tả một bức tranh tinh thần vậy.

Vậy, nếu “thu đang buồn”, thì sao đây?

Thì…thì…
…thì cốm cũng bớt xanh…

Đâu đó, giống như hồi trẻ con nhỉ, khi những đứa trẻ vặn nhau bằng khôn cùng câu hỏi. Và, ở “chân tường”, một đứa trẻ đáp: “à…ờ…thì…”

…thì cốm cũng bớt xanh. Sau câu thơ, mà tựa như đến sau nhịp “à…ờ…” ngập ngừng đầu tiên đó, thì giờ, bài thơ hết sức đi vào một “luồng ngữ hành”, lần lượt “biểu kiến” từ dung môi tâm cảm tận chiều sâu.

Từ khổ thứ một, đến cuối khổ ba, theo mạch của cả tâm và trí, là sự đi cùng những sắc thái mùa thu. Cặp “nếu-thì” không lặp lại nhiều, nó được nói bằng những cách khác nhau, nhưng cùng mang bản chất ấy.

“Nếu” mùa thu đang buồn, “thì” (ta thấy) cốm cũng bớt màu xanh. “Nếu” (ta thấy) hoa cúc đương vàng chanh, “thì” mùa thu đương “non” lắm, như hồi ức bé thơ của ta vậy. Rồi, “lớn nhanh thì sao thế?”. Thu đương “còn bé”, mà bỗng chốc lớn nhanh, thì có giống như ta, trong thoạt nhanh biến đổi của thời gian, bỗng chốc biến thành một cô gái? Thì, thì sao nhỉ?

…Thì cúc sẽ vàng ươm…

Khi này, cúc không còn vàng chanh nữa, mà ta sẽ thấy, cúc vàng ươm khắp phố cùng phường. Và…

Nắng sẽ xâu hạt cườm
Khen mùa thu xinh quá…

Những hạt nắng chẳng chỉ là hạt nắng, mà sẽ lung linh như những hạt cườm kết lại, trên khuôn cổ, trên vòng tay cô gái đôi mươi. Trong rất nhanh, ta như “điểm lại” hồn thu trong suốt cả 3 thời: quá khứ, hiện tại, và cả tương lai:

…Gió sẽ vờn kẽ lá
Mỗi lúc mùa thu vui…
…Mưa sẽ lã chã rơi
Mỗi khi mùa thu (tức là ta), đang khóc đó…

Ừ, cô gái đôi mươi, thì thoắt vui, thoắt khóc là phải rồi. Trong 3 khổ đầu, hồn ta, và hồn thu, như “bất khả phân” vậy. Nhưng, đến khổ 4, “ta” dường “chiết” ra một nửa tâm hồn, một nửa vẫn trong thu, một nửa lại “đứng ngoài”, để ta thủ thỉ cho chính ta nghe, để ta tự sự, bắt đầu “dặn thu”, cũng, là tự dặn chính mình:

“Này thu sao phải khóc”

Vừa hỏi thu, “ta” vừa như tả thu, cho chính thu xem mình vậy.

“Để cho phố nhoà mưa
Cho đôi mắt ai mơ
màng buồn không duyên cớ”

Vừa hỏi thu, ta vừa như “đổ lỗi cho thu” vậy. Thu khiến mình đẹp mơ màng, cũng khiến ta…buồn không duyên cớ. Ở chỗ này, thật chẳng phân nổi đâu thu, đâu ta. Chẳng biết thu mưa, hay là ta mưa, chẳng biết thu khóc, hay là ta khóc. Hỏi thu sao phải khóc, mà ta mơ màng, bâng khuâng nhìn nỗi buồn của mình.

Thu, sao mà nức nở
Có phải vì yêu không
Có phải đã đem lòng
Yêu mến rồi nhân thế

Mỗi khi, một ý thơ “di chuyển”, nó dường biến hoá cung bậc rất nhiều, và ghé mình vào thực nhiều “nhà ga của ý”. Trên hỏi, thu khóc có phải vì yêu, khiến hiểu như cái yêu của một tình nhân vậy. Đến dưới, yêu đã tự đổi, khẳng định mình như tình yêu nhân thế. Mà, yêu trai gái, chẳng phải cũng là một niềm của yêu nhân thế hay sao. Sự “biến tấu” này, hoàn toàn là mạch của tâm. Nó “logic” theo cách của tâm, mà thực, tôi không thể nào giải thích, hay bày phơi cho đặng.

Và thì..

“Nếu thật là như thế
Hãy để mặc mưa buông
Trên khắp những con đường
Đừng ngăn niềm nức nở”
“Cho mưa ôm lấy phố
Cho phố đắm trong mưa
Yêu mà, ai cũng thế
Đừng xấu hổ nghe chưa”

Giờ, cái bóng của tình yêu trai gái, lại chập chờn trở lại, sóng sa sóng sánh trong lời. Tại đây, mạch của trí dường khiêm mình lắm lắm, nó để mặc tâm cảm tự xuôi dòng, tự trôi, và tự “hồn cốt hoá” chính mình thật linh động, nhưng vẫn luôn “logic” bởi vì tâm cảm tuy biến hoá, nhưng mật thiết tự nhiên, và mềm hơn cách của trí rất nhiều bậc. Vì “mềm”, nên nó dễ bề được “chen ngang”, được đơm ý, thậm chí, được hoà quyện mình trong nhau. Nên, đương nức nở, bỗng chốc “chen” ngay bởi niềm âu yếm ấm áp, vỗ về, và dung chứa. Thương đấy, xong lại như mắng đấy. Mắng đấy, mà lại từ thương đấy: “đừng xấu hổ nghe chưa…” Và, vẫn luôn thế, thu trong ta, ta trong thu, lẫn là lẫn lộn.

Sau khi nức nở đã “thoả thuê”, thì giờ, mới tới khổ căn dặn đầy “cứng cáp”.

“Nhưng, xong thì nín nhé
Đừng mưa mãi đấy nghe
Cho phố phường lên nắng
Trẻ con thôi khóc nhè”
“Cho ta không buồn nữa
Vì phơi áo chẳng khô
Cho ta thôi thẫn thờ
Khi sân đầy lá rụng”

Nào, có phải ta buồn vì phơi áo chẳng khô, hay sân đầy lá rụng? Nói ra đặng chữ “buồn”, và “thẫn thờ”, ta xem như đã đẫm tỏ bày. Nhưng, chẳng chịu tỏ bày cho tới. Mở được chút cõi lòng, ta lại manh nha ghém nó lại. Ra vẻ tại áo chẳng khô, ra vẻ tại sân đầy lá rụng, mà mười mươi, nào đâu phải. “Ta” úp úp, mở mở, mâu thuẫn như chính mình, lúc biến vào thu, lúc lại “thoát hồn” mà thênh thang ưu cảm.

Khi, khổ cuối cùng được viết, cảm thức sũng sịu, mênh mang nức nở, thứ nức nở rỉ rắt như sương như mưa của mùa thu, cũng đóng mình “cái rẹt”. Nắng lên nhanh chóng, hong khô mọi nỗi niềm. Dẫu trước đó có là gì đi nữa, thì cuối cùng, người mà trước đó, còn nhập hồn bất khả phân với mùa thu, giờ cũng như người giũ chiếc khăn quàng, xênh xang phơi phóng.

“Đừng tin theo nỗi buồn”…

Vâng, một phiên cảm xúc, dẫu có được lưu trữ bất kể đâu trong góc tâm hồn nào, và diễn giải ra sao trong vùng thọ cảm. Thì cuối cùng, “lời dặn” của “tác giả” dành cho mình chính là: “đừng tin theo nỗi buồn”. Câu cuối mở ngỏ một ô cửa, dẫn bản thân tới trạng thức “không tin theo nỗi buồn”, tức thứ cảm thọ mà phần nào đó, được nuôi dưỡng bởi nhãn quan “vô minh”. Tại ô cửa này, cả “tác giả”, lẫn người đọc đều có thể lựa chọn: gói lại cảm xúc trước mùa thu, hay sẽ mênh mang tiếp. Hồ như, có đó một lựa chọn, dừng lại trong chơi vơi cảm xúc, hay, cũng giống như điều “tác giả” hướng tới, là khoanh tay đứng nhìn cảm xúc đến đi, cũng như ngắm mùa thu tới lui, trên nền bức toan bốn mùa không đầu, không cuối…

Vâng, trên đây là những san bày, tự sự của tôi không phải về bài thơ “Dặn thu”, mà về chính “tâm mạch” mà tôi từng đi qua, để viết ra bài thơ này. Mỗi bài thơ của tôi, hầu như đều tới với tôi theo cách như vậy. Không chủ đề cho đến khi dòng chữ cuối cùng được viết. Ngay cả tự sự này, nó cũng đi theo mạch của chính nó, mà chẳng chịu cho tôi “thiết kế” đâu. Mong rằng, chút chia sẻ này sẽ khiến bạn đọc hiểu và gần gũi thêm hơn với những bài thơ của tôi, để những bài thơ ngày càng nhận được thêm những bình luận, những “dấu chấm hỏi” mà nói lên rằng: “Tôi đã đọc, và quan tâm bài thơ của bạn” 🙂

(15-10-2024)

 

Chia sẻ:

Lan trồng một cây cúc nhỏ, khi cha của cô lái xe đến toà.

Chi xem mưa vây quanh một hố trũng.

Còn lại, người đến tiệm trà phục vụ, người cắn mẩu sô cô la, người biên thư cho mẹ.

Đó là câu trả lời khi thầy giáo tiếng Anh mới tên John hỏi học trò đã làm gì sáng nay.

Một học viên không nói gì. Thầy hỏi lần nữa. Cô đáp: Tôi chết.

Nháy mắt, cô cười. Thầy giáo John nhanh chóng bắt đầu bài học mới.

Cuối buổi, mưa đổ nhẹ ngoài hiên. Ai hay vội vã thì luôn vội vã. Tất cả ra về, còn lại Giang, cô gái đã “chết” sáng nay, và người thầy giáo trong chiếc sơ mi màu blue, ngồi sửa soạn giáo trình.

Khi hạt mưa nhỏ lại, tiếng tí tách li ti, Giang cất lời: Anh làm gì sáng nay?

John trả lời: Tôi đi làm.

– Anh làm công việc gì?

John nháy mắt: Tôi làm thần chết.

Chiếc đồng hồ cát trên bàn nhẹ xoay thật khẽ, giọt mưa cuối cùng êm đềm ngứt.

Không có gì bất thường khi mọi thứ đã vốn không bình thường.

Giang mắc bệnh tim bẩm sinh. Mỗi nhịp tim của cô đều là một món quà. Nó luôn hát: Thêm một nhịp, thêm một nhịp, lại thêm một nhịp…

Giang có một status kinh điển hay đăng trên Facebook: “Vâng, xin nhé. Cám ơn!”

Bạn bè hay like hoặc cười ha ha mỗi khi Giang đăng tút như vậy. Họ chẳng comment gì cả. Và cũng không hiểu gì cả.

Một thời gian, John trở về nước. Trước ngày rời đi, lớp học tổ chức một buổi đi chơi.

Hôm ấy, nắng dồn dập. Tập thể cùng nhau lên vùng rừng. Chim hót véo von. Gió vui đùa trong từng kẽ lá. Ai cũng hát. Thầy John không ngừng mỉm cười. Giang lặng yên ngắm nhìn sự vận động chan hoà, không nói, và không hát một câu.

Đôi ba làn gió thổi rợn về chiều. John lặng lẽ dần. 

Đến bây giờ, anh vẫn không thể cắt nghĩa sự bình yên đến lạ mỗi khi không gian chung quanh có sự tồn tại của một cô gái, đó là Giang.

Dù không mấy chuyện trò, và khoảng cách chưa bao giờ gần hơn 5 mét, nhưng John luôn thấy nó, một sự thanh bình và êm ái. Nhưng chiều nay, một chút rợn lòng nơi chàng trai ưa mặc áo xanh blue.

Vài ý nghĩ quẩn quanh, John bất ngờ lên tiếng hỏi cô gái tóc dài đang ngồi tựa lưng vào cây trò già: Hey, sáng nay em làm gì?

Giang không đáp gì. Đôi tấm lưng quay lại. Nắng chiếu nhẹ trên khuôn mặt cô gái, nơi mi mắt đang dần rủ xuống. Ai đó trêu đùa: “Sống lại chưa cô gái? Buổi chiều rồi!”

Giang vẫn lặng yên, như những gì yên lặng.

Một nhịp thở, hai nhịp thở, ba nhịp thở…

Chợt quên hết tất cả mọi thứ trên đời, ngay cả lý lịch bản thân cũng đánh rơi tan biến, John đứng dậy, tiến đến bên cô gái. Mỗi bước chân không nhanh hơn một nhịp thở sâu. Gió và nắng dạt dào mà chậm rãi khôn cùng. Không gian ngưng đọng như mọc mầm trên mỗi phút giây.

John đến nơi, khuỵu mình xuống cỏ, dùng đôi bàn tay mình nắm xiết lấy bàn tay Giang. Lạnh giá và ấm nóng, xiết chặt lấy nhau.

1 thế kỳ trôi qua…

Lan trồng một cây xương rồng nhỏ…

Chi ngắm tuyết rơi trên những nóc xe tắc đường…

Ai đó khuấy tách sô cô la đắng…

– Còn Giang, em làm gì?

– Em vừa thức dậy, dùng cà phê sáng.

John mỉm cười: Tôi cũng vậy!

Sau lưng John, cát chảy nhẹ trong chiếc đồng hồ. Ngoài cửa sổ, sự sống đầy ngập tình yêu.

(11-8-2019)

 

Chia sẻ:

ABOUT ME

"Khi ngôn ngữ chưa tới, 
thơ đã ở đấy rồi"

"Với tôi, 
thơ là của các vì sao"

(Hạnh Dung)
 

SOCIAL MEDIA

NHẬN TIN QUA EMAIL

BÀI VIẾT NỔI BẬT