Bài thơ “Dặn thu” Nếu mùa thu đang buồn Thì cốm cũng bớt xanh Nếu hoa cúc vàng chanh Nghĩa là thu còn bé Lớn nhanh thì sao thế Thì cúc sẽ vàng ươm Nắng sẽ xâu hạt cườm Khen mùa thu xinh quá Gió sẽ vờn kẽ lá Mỗi lúc mùa thu vui Mưa sẽ lã chã rơi Mỗi khi mùa thu khóc Này thu sao phải khóc Để cho phố nhoà mưa Cho đôi mắt ai mơ màng buồn không duyên cớ Thu, sao mà nức nở Có phải vì yêu không Có phải đã đem lòng Thương mến rồi nhân thế Nếu thật là như thế Hãy để mặc mưa buông Trên khắp những con đường Đừng ngăn niềm nức nở Cho mưa ôm lấy phố Cho phố đắm trong mưa Yêu mà, ai cũng thế Đừng xấu hổ nghe chưa Nhưng, xong thì nín nhé Đừng mưa mãi đấy nghe Cho phố phường lên nắng Trẻ con thôi khóc nhè Cho ta không buồn nữa Vì phơi áo chẳng khô Cho ta thôi thẫn thờ Khi sân đầy lá rụng Cho ta thôi ngờ vực Thu hay mình già hơn Thôi, nắng lên đi nhé Đừng tin theo nỗi buồn. (11-10-2021) ***
Khi tôi đăng bài thơ “Dặn thu”, có độc giả đã gửi bình luận gồm 4 dấu chấm hỏi ;). Tôi hiểu rằng, độ khó hiểu nào đó của bài thơ đã được “cứu xét” tới.
Chưa biết nên trả lời bạn ra sao, tôi bèn tính, hay mình tự sự đôi chút về bài thơ, để độc giả có thể hiểu hơn ít nhiều.
Thực ra, tôi chưa từng làm một bài thơ với chủ đề định trước. Ngay cả khi đã “dự liệu” được tên bài, nhưng, mười lần như một, tôi luôn phải để trống phần tên bài như một “thủ tục tâm lý”, khi nào viết xong hết, mới được điền vào. Bằng không, tôi sẽ “đóng băng” không thể viết. Có lúc, “buột” ra cái tên hay, nôn nóng gõ vào, vậy mà rồi lại phải xoá đi, không thì thơ không chịu “diễn biến” nữa.
Nên, nhiều bài thơ của tôi rất dài, và hồn cốt (hay cảm xúc) tuy được “phác” lúc ban đầu, nhưng “mạch truyện” lại luôn “cập nhật” tức thời cùng mọi dòng chữ. Nó không là gì khác ngoài “mạch của tâm”. Tất nhiên, mạch của tâm thì cũng phải có “cốt”, nhưng cốt đó nhiều khi, mảnh và ẩn sâu đến độ, làm khó người đọc…là có thật.
Nhưng, cái “kỳ cục” của thơ chứ không phải văn, là người đọc trước khi diễn giải “logic” để nắm bắt “cốt truyện” một cách hiển lộ, thì, trong “địa phận” linh cảm nào đó, người ấy đã “uống trọn” rung cảm tổng quát của bài thơ rồi. Mạch tâm của người đọc, cũng vô hình đồng thuận với mạch tâm của người viết, dù tâm trí còn trì hoãn, hãn muốn một vài ngừng lại, để cắt nghĩa rõ ràng, hay để chút băn khoăn.
Bài thơ “Dặn thu”, cũng là một bài thơ thiên về “mạch của tâm”, tức cảm xúc, hơn là “mạch của trí”. Nên, nó không giống lắm những bài thơ mang một hàm ý cụ thể, một ý nghĩa triết lý, một nhận thức đời sống, hay một ý nghĩa sâu xa, mà nói ra được cho rõ ràng. Thế nên, nếu như được đọc bởi một lực truy cầu ý nghĩa, thì “ý nghĩa” của bài thơ lại như cọng rêu mỏng dưới làn nước, càng chạm, càng lùi lại, chỉ sủi lên những lăn tăn mà thôi.
Thực tình, tôi hay làm thơ vào mùa thu lắm. Đơn giản, vì mùa thu hàm xúc quá. “Dung môi thu” chứa chan ngập tràn, động tí là chạm hồn người. Nay chạm xúc cảm này, mai chạm xúc cảm khác, tuỳ “đôi mắt trần gian” đương thấm đượm những gì.
Bài thơ “Dặn thu”, thì không có gì to tát cả. Tôi còn nhớ khi đó, tôi buồn, một cái buồn…rất thu. Nó không gay gắt khổ đau, mà man mác ủ quanh tâm cảm, làm nên một cô đơn. Rồi, bất giác, cảm thức buồn không chịu ẩn náu nữa, nó buột khỏi tim, tìm đường thoát ra qua tâm trí. Tôi, buột miệng thốt: “Mùa – thu – đang – buồn”. Khi ấy, tôi “làm như”: mình là thu, thu là mình đấy. Trong giây lát, tôi như “tuột xích” một ghìm giữ. Mắt xích đầu bị rớt, vậy là, mắt xích sau cứ thuột luột rơi theo. Tôi bỗng muốn “tuyên bố” với mùa thu, rằng tôi đang buồn lắm. Và, vì nhầm lẫn, mình là thu, thu là mình, nên khi “linh cảm” ùa tới, tôi “nhập vai” vào thu, lúc thì hai trong một, lúc thì, một lại phân hai lúc nào không hay. Như thế, câu thơ đầu tiên gõ xuống:
“Nếu mùa thu đang buồn…”
Đến đây, thì “sóng thơ” nó bắt đầu “e hèm” với tôi rồi. Như sương muốn trĩu xuống bầu không khí. Và “não” tôi lúc đấy, chỉ tìm cách rót cho ra cái tâm cảnh, như người miêu tả một bức tranh tinh thần vậy.
Vậy, nếu “thu đang buồn”, thì sao đây?
Thì…thì… …thì cốm cũng bớt xanh…
Đâu đó, giống như hồi trẻ con nhỉ, khi những đứa trẻ vặn nhau bằng khôn cùng câu hỏi. Và, ở “chân tường”, một đứa trẻ đáp: “à…ờ…thì…”
…thì cốm cũng bớt xanh. Sau câu thơ, mà tựa như đến sau nhịp “à…ờ…” ngập ngừng đầu tiên đó, thì giờ, bài thơ hết sức đi vào một “luồng ngữ hành”, lần lượt “biểu kiến” từ dung môi tâm cảm tận chiều sâu.
Từ khổ thứ một, đến cuối khổ ba, theo mạch của cả tâm và trí, là sự đi cùng những sắc thái mùa thu. Cặp “nếu-thì” không lặp lại nhiều, nó được nói bằng những cách khác nhau, nhưng cùng mang bản chất ấy.
“Nếu” mùa thu đang buồn, “thì” (ta thấy) cốm cũng bớt màu xanh. “Nếu” (ta thấy) hoa cúc đương vàng chanh, “thì” mùa thu đương “non” lắm, như hồi ức bé thơ của ta vậy. Rồi, “lớn nhanh thì sao thế?”. Thu đương “còn bé”, mà bỗng chốc lớn nhanh, thì có giống như ta, trong thoạt nhanh biến đổi của thời gian, bỗng chốc biến thành một cô gái? Thì, thì sao nhỉ?
…Thì cúc sẽ vàng ươm…
Khi này, cúc không còn vàng chanh nữa, mà ta sẽ thấy, cúc vàng ươm khắp phố cùng phường. Và…
Nắng sẽ xâu hạt cườm Khen mùa thu xinh quá…
Những hạt nắng chẳng chỉ là hạt nắng, mà sẽ lung linh như những hạt cườm kết lại, trên khuôn cổ, trên vòng tay cô gái đôi mươi. Trong rất nhanh, ta như “điểm lại” hồn thu trong suốt cả 3 thời: quá khứ, hiện tại, và cả tương lai:
…Gió sẽ vờn kẽ lá Mỗi lúc mùa thu vui… …Mưa sẽ lã chã rơi Mỗi khi mùa thu (tức là ta), đang khóc đó…
Ừ, cô gái đôi mươi, thì thoắt vui, thoắt khóc là phải rồi. Trong 3 khổ đầu, hồn ta, và hồn thu, như “bất khả phân” vậy. Nhưng, đến khổ 4, “ta” dường “chiết” ra một nửa tâm hồn, một nửa vẫn trong thu, một nửa lại “đứng ngoài”, để ta thủ thỉ cho chính ta nghe, để ta tự sự, bắt đầu “dặn thu”, cũng, là tự dặn chính mình:
“Này thu sao phải khóc”
Vừa hỏi thu, “ta” vừa như tả thu, cho chính thu xem mình vậy.
“Để cho phố nhoà mưa Cho đôi mắt ai mơ màng buồn không duyên cớ”
Vừa hỏi thu, ta vừa như “đổ lỗi cho thu” vậy. Thu khiến mình đẹp mơ màng, cũng khiến ta…buồn không duyên cớ. Ở chỗ này, thật chẳng phân nổi đâu thu, đâu ta. Chẳng biết thu mưa, hay là ta mưa, chẳng biết thu khóc, hay là ta khóc. Hỏi thu sao phải khóc, mà ta mơ màng, bâng khuâng nhìn nỗi buồn của mình.
Thu, sao mà nức nở Có phải vì yêu không Có phải đã đem lòng Yêu mến rồi nhân thế
Mỗi khi, một ý thơ “di chuyển”, nó dường biến hoá cung bậc rất nhiều, và ghé mình vào thực nhiều “nhà ga của ý”. Trên hỏi, thu khóc có phải vì yêu, khiến hiểu như cái yêu của một tình nhân vậy. Đến dưới, yêu đã tự đổi, khẳng định mình như tình yêu nhân thế. Mà, yêu trai gái, chẳng phải cũng là một niềm của yêu nhân thế hay sao. Sự “biến tấu” này, hoàn toàn là mạch của tâm. Nó “logic” theo cách của tâm, mà thực, tôi không thể nào giải thích, hay bày phơi cho đặng.
Và thì..
“Nếu thật là như thế Hãy để mặc mưa buông Trên khắp những con đường Đừng ngăn niềm nức nở”
“Cho mưa ôm lấy phố Cho phố đắm trong mưa Yêu mà, ai cũng thế Đừng xấu hổ nghe chưa”
Giờ, cái bóng của tình yêu trai gái, lại chập chờn trở lại, sóng sa sóng sánh trong lời. Tại đây, mạch của trí dường khiêm mình lắm lắm, nó để mặc tâm cảm tự xuôi dòng, tự trôi, và tự “hồn cốt hoá” chính mình thật linh động, nhưng vẫn luôn “logic” bởi vì tâm cảm tuy biến hoá, nhưng mật thiết tự nhiên, và mềm hơn cách của trí rất nhiều bậc. Vì “mềm”, nên nó dễ bề được “chen ngang”, được đơm ý, thậm chí, được hoà quyện mình trong nhau. Nên, đương nức nở, bỗng chốc “chen” ngay bởi niềm âu yếm ấm áp, vỗ về, và dung chứa. Thương đấy, xong lại như mắng đấy. Mắng đấy, mà lại từ thương đấy: “đừng xấu hổ nghe chưa…” Và, vẫn luôn thế, thu trong ta, ta trong thu, lẫn là lẫn lộn.
Sau khi nức nở đã “thoả thuê”, thì giờ, mới tới khổ căn dặn đầy “cứng cáp”.
“Nhưng, xong thì nín nhé Đừng mưa mãi đấy nghe Cho phố phường lên nắng Trẻ con thôi khóc nhè”
“Cho ta không buồn nữa Vì phơi áo chẳng khô Cho ta thôi thẫn thờ Khi sân đầy lá rụng”
Nào, có phải ta buồn vì phơi áo chẳng khô, hay sân đầy lá rụng? Nói ra đặng chữ “buồn”, và “thẫn thờ”, ta xem như đã đẫm tỏ bày. Nhưng, chẳng chịu tỏ bày cho tới. Mở được chút cõi lòng, ta lại manh nha ghém nó lại. Ra vẻ tại áo chẳng khô, ra vẻ tại sân đầy lá rụng, mà mười mươi, nào đâu phải. “Ta” úp úp, mở mở, mâu thuẫn như chính mình, lúc biến vào thu, lúc lại “thoát hồn” mà thênh thang ưu cảm.
Khi, khổ cuối cùng được viết, cảm thức sũng sịu, mênh mang nức nở, thứ nức nở rỉ rắt như sương như mưa của mùa thu, cũng đóng mình “cái rẹt”. Nắng lên nhanh chóng, hong khô mọi nỗi niềm. Dẫu trước đó có là gì đi nữa, thì cuối cùng, người mà trước đó, còn nhập hồn bất khả phân với mùa thu, giờ cũng như người giũ chiếc khăn quàng, xênh xang phơi phóng.
“Đừng tin theo nỗi buồn”…
Vâng, một phiên cảm xúc, dẫu có được lưu trữ bất kể đâu trong góc tâm hồn nào, và diễn giải ra sao trong vùng thọ cảm. Thì cuối cùng, “lời dặn” của “tác giả” dành cho mình chính là: “đừng tin theo nỗi buồn”. Câu cuối mở ngỏ một ô cửa, dẫn bản thân tới trạng thức “không tin theo nỗi buồn”, tức thứ cảm thọ mà phần nào đó, được nuôi dưỡng bởi nhãn quan “vô minh”. Tại ô cửa này, cả “tác giả”, lẫn người đọc đều có thể lựa chọn: gói lại cảm xúc trước mùa thu, hay sẽ mênh mang tiếp. Hồ như, có đó một lựa chọn, dừng lại trong chơi vơi cảm xúc, hay, cũng giống như điều “tác giả” hướng tới, là khoanh tay đứng nhìn cảm xúc đến đi, cũng như ngắm mùa thu tới lui, trên nền bức toan bốn mùa không đầu, không cuối…
Vâng, trên đây là những san bày, tự sự của tôi không phải về bài thơ “Dặn thu”, mà về chính “tâm mạch” mà tôi từng đi qua, để viết ra bài thơ này. Mỗi bài thơ của tôi, hầu như đều tới với tôi theo cách như vậy. Không chủ đề cho đến khi dòng chữ cuối cùng được viết. Ngay cả tự sự này, nó cũng đi theo mạch của chính nó, mà chẳng chịu cho tôi “thiết kế” đâu. Mong rằng, chút chia sẻ này sẽ khiến bạn đọc hiểu và gần gũi thêm hơn với những bài thơ của tôi, để những bài thơ ngày càng nhận được thêm những bình luận, những “dấu chấm hỏi” mà nói lên rằng: “Tôi đã đọc, và quan tâm bài thơ của bạn” 🙂
(15-10-2024)