Skip to content

Bài viết trong chuyên mục: Truyện ngắn

John rất trẻ, là sinh viên máy tính, và rất thích vẽ. Anh có vóc dáng khoẻ mạnh, vận đồ đơn giản, nhưng luôn lủng củng bên mình nào bút chì, giấy, toan, bút lông, màu vẽ.

John vẽ nhiều, và không cầu kỳ. Anh không mải chọn những người, vật thể hay khung cảnh đẹp. Anh đơn giản vẽ những gì mình thấy, hoặc mình nghĩ. Đôi khi, anh vẽ nhanh như gió, tựa như đuổi bắt tĩnh trong động. Nhưng cũng có lúc, John chậm rãi hơn một đồng hồ cát, như trong màn phim quay chậm. Người ta cảm thấy John có một nhịp thời gian riêng.

Những bức vẽ của John xếp đầy trong căn phòng ký túc xá, và thường xuyên phải mượn sàn của bạn học Peter để dựng. Có lần, Peter vấp phải bức tranh cụ già Laura ở viện dưỡng lão. Cụ Laura chừng bảy mươi. Cụ hay ngồi ghế đá trong khuôn viên nơi gần trường đại học của John và Peter. Trong bức vẽ của John, cụ Laura vận bộ đồ của viện, tai đeo đôi khuyên hình bông hồng, trên đầu là chiếc mũ dạ xanh, trên vành có thêu một con chim nhỏ. Đôi cánh của nó như sắp bay dưới làn nắng nhẹ trong khuôn viên.

John hay chạy bộ dọc bên sườn khu viện dưỡng lão này, và thường hay dừng lại ở khuôn viên nhỏ ngoài cổng sau của viện. Ở đây, anh thích ngồi chiếc ghế quen thuộc, nếu thích, sẽ giở toan ra và vẽ.

Một cách chủ quan thì, Peter không cho rằng đó là một nơi rất đẹp để vẽ. Theo cậu, xung quanh đó còn có những nơi đẹp và thi vị hơn. Chỉ bởi vì gần nhất nên cậu thường tới để chạy bộ. Mỗi khi tới và thấy John ở đó, cậu lặng yên cho bạn vẽ, hoặc đơn giản là ngồi trên ghế. Peter đoán, chắc là cậu ấy ngắm nhìn những chú chim câu lạch bạch thật thanh bình, thảng hoặc lại vỗ cánh, bay lên một đoạn. Chúng chẳng bao giờ bay đi đâu xa cả, luôn loanh quanh lúc thì vệ cỏ, lúc trên thanh ghế, lúc lại nhỏ nhẻ theo sau bóng người. Có vẻ, chúng rất quen nơi này. Peter thường thấy John huýt sáo gọi chúng.

John thích những màu sắc cho cảm giác thanh bình, niềm vui và hy vọng. Anh không chao tâm bởi lớp vẻ đẹp thoả mãn cặp mắt. Với anh, một chiếc lá xanh rất đẹp, và một chiếc lá khô cũng thế. Mỗi khi anh nhìn, sự vật in vào tâm hồn anh nhanh hơn cặp mắt. Và bởi rất yêu đời, John thấy tất cả đều đẹp đẽ và hàm xúc. Sự tận tuỵ của một cô y tá, mái tóc bạc của vị thầy giáo già, bàn tay đỡ lưng con của một người mẹ, hay chiếc cằm non nớt của những em bé, tất cả đều lần lượt có mặt trong những bức tranh của John.

Một đợt, chiều nào John cũng ra vẽ nơi khuôn viên sau lưng viện dưỡng lão. Cùng một ghế đá, cùng một góc nhìn. John mải mê, chăm chú và đầy cảm hứng. Khung cảnh không đặc biệt hơn mọi ngày, vẫn đám bồ câu lạch bạch, những vạt cỏ xanh màu nắng hanh và gió nhẹ. Xa xa, sau lưng John, Peter không thấy những nét cọ của anh bắt đầu từ giữa khung tranh. Hình như anh không vẽ vật gì cụ thể. Trái lại, nét cọ lúc rộng rãi khoáng đạt, lúc xoáy sâu nho nhỏ, khoan thai đều đặn trên mặt toan. Có điều, Peter không thấy nó giống khung cảnh của khuôn viên, mà chỉ là những mảng và vệt màu trên khắp bức tranh. Dù không hiểu lắm, nhưng Peter cũng thầm thấy rằng những gam màu đó thật sự rất đẹp. Peter gật gù, trước khi trông thấy một cô gái nhẹ bước tới chỗ bầy chim. Cô cho đám chim ăn một ít thóc rồi lại đi. Trời càng về chiều càng thiết tha. Nắng chùng xuống lòng người và gió nhẹ nâng niềm rung cảm. John vẫn mải mê trước những sắc màu như sự sống nở ra trong từng nhát cọ. Đâu đó những chấm nhỏ to như những chú chim câu đang ăn thóc. Peter quay về ký túc xá đọc sách.

Mấy hôm nay, trong khu viện dưỡng lão nhận một nữ điều dưỡng mới. Sophia 23 tuổi, đến từ miền nam. Cô mảnh dẻ, tóc màu nâu và quấn trễ sau gáy. Sophia ít nói. Ngày đầu tiên tới viện, ngoài những giao tiếp cần thiết, cô không nói gì thêm. Nhưng, cụ Laura thì nói rất nhiều. Cụ bắt quen với cô gái mới và nói rằng hồi trẻ cụ có rất nhiều chàng trai theo đuổi, dù một thỏi son cụ cũng chưa bao giờ dùng. Cụ thích trồng hoa hồng, uống trà và tập thái cực. Một người bạn của cháu trai cụ là người Trung Quốc, dạy cho cụ thái cực và nếu muốn, cụ sẽ dạy lại cho cô. Sophia nhẹ cười và dắt cụ ra sân ngồi hóng nắng. Cụ Laura thư giãn trên ghế, nắm bàn tay của Sophia, mắt lim dim tựa hồ đang nghe một bản nhạc. Chiều muộn, khi xong xuôi các việc, Sophia lại ra khuôn viên sau lưng viện cho đám bồ câu ăn. Hôm nay trời sẩm sớm, chẳng còn mấy ai nán lại khuôn viên.

Ngày lại ngày, cụ Laura trở nên quen thuộc với Sophia. Dù không nói nhiều, cũng chẳng hài hước, nhưng Sophia luôn làm cụ thấy dễ chịu. Bàn tay Sophia gầy guộc, ngón tay dài không mang một chiếc nhẫn, thường chải tóc cho cụ Laura. Mỗi khi dắt cụ ra ngoài hóng gió, Sophia không quên đội thật nhẹ chiếc mũ len thêu hình con chim lên mái tóc ngắn, quăn nhẹ và bạc màu của cụ. Có những hôm rảnh việc sớm, Sophia tranh thủ ra khuôn viên sau viện cho chim ăn sớm. Và ngày nào cũng thế. Lũ chim ngày càng quen với cô. Những chiều khi Sophia chưa tới, chúng tập hợp quẩn quanh, không một con nào bay đi đâu, lạch bạch quanh vệ cỏ, cho đến khi nghe thấy tiếng bước chân Sophia thở trên mặt đất, thì xôn xao vỗ cánh.

Chiều hôm ấy, như mọi ngày, Sophia đến bên bầy chim, ngồi tựa gối xuống bệ cỏ, lấy một nắm thóc từ trong túi áo và rắc quanh cho chim ăn. Bầy chim ăn xong nhảy lên vai, lên tay cô. Sophia cười với chúng, nụ cười ấm áp và tươi sáng.

Chiều hôm qua, như mọi ngày, Sophia đến bên bầy chim, ngồi tựa gối xuống bệ cỏ, lấy một nắm thóc trong túi áo, và cho chim ăn. Lũ chim đi quanh cô, lạch bạch, thanh bình.

Chiều hôm nay, như mọi ngày, Sophia lại đến với bầy chim. Ngày mỗi ngày, nối tiếp như hơi thở. Lũ chim và cô gái trở thành một phần linh hồn của khu công viên. Từ bao giờ, nụ cười của cô đã đem đến một sắc màu không thể thiếu. Nó chan vào không gian, hoà trong tia nắng và niềm rung cảm. Khi tất cả đã về, lũ chim tản đi tìm chỗ ngủ, John cất toan vẽ, lặng lẽ trở về ký túc. Xa xa sau lưng anh, Peter cũng âm thầm quay gót.

Những bức tranh đầy dần trong căn phòng của John và Peter. Có một chỗ để xếp riêng những bức tranh gần đây nhất. Đó là những bức tranh về bầy chim và một cô gái. Cả bằng chì lẫn màu nước, cả trên giấy, lẫn nhiều tấm toan. Peter không xem chúng, nhưng anh cảm được điều gì trong đó.

Cụ già Laura gần đây ít thích ra sân hóng gió. Thay vào đó, cụ bắt đầu thói quen nghe đọc sách. Người đọc sách cho cụ là Sophia. Cụ và Sophia ngày càng thân thiết. Với cụ Laura, Sophia chuyện trò cởi mở và vui vẻ. Một buổi sáng, cụ theo Sophia đi dạo ra chỗ bầy chim. Sáng đó, ở bên bầy chim là một chàng thanh niên. Với thóc trên tay chàng rắc cho đám chim ăn. Nghe tiếng cụ Laura, chàng thanh niên đứng dậy và xoay người lại. Chàng có đôi mắt xanh và rất tình cảm. Đó chính là Peter.

Đêm ấy, ở nơi viện dưỡng lão, Sophia cầm bút chì trên tay. Màn đêm như nghe thấy tiếng thở của cô, chốc thì nhanh, chốc như dừng lại. Trên chiếc bàn nhỏ, cuốn sổ im lặng đón từng nét vẽ của Sophia, như trái tim cô gái mặc nhiên đón từng rung cảm kỳ diệu. Từ trong cuốn sổ, ánh mắt người thanh niên dâng kín hồn cô. Đêm sâu dần, Sophia khẽ ngân câu hát:

"Anh không đến từ bên ngoài
Em khẳng định, anh vốn ở bên trong
Em không thể chứng minh
Cũng chẳng thể làm gì
Ngoài bất động trong khoảnh khắc ấy"

Có ánh sáng nhẹ từ chiếc điện thoại di động. Là tin nhắn chúc ngủ ngon của cụ Laura. Trừ Sophia, có lẽ, tất cả cũng đã ngủ.

Ngày hôm sau, bầu trời khoan thai sáng. Giờ khắc cũng nhịp nhàng mà trôi. Khu viện dưỡng lão mau dần tiếng nói, tiếng cười, tiếng ho, và tiếng phàn nàn. Ai đó đã nhiều đêm không ngủ. Ai đó mắt ngày càng kém đi. Ai đó lưng đau chẳng buồn nghe chim hót…Sophia lại tận tuỵ với những công việc hàng ngày. Đâu đó ngoài kia, những cánh bồ câu lúc xa, lúc gần, thanh thản bay qua.

John quan sát mãi hai chú chim đang ngồi cạnh nhau trên ghế đá. Trong khuôn viên lúc này, chỉ có John, bồ câu, cây, cỏ, ghế, nắng, và gió. Cũng có lẽ còn có ai khác nữa, nhưng nỗi cô đơn lớn quá, khiến John thấy điều đó không quan trọng. Anh không khẳng định mình đang trông đợi điều gì, cũng không giở toan vẽ như mọi ngày. Chỉ dừng chân trước hai chú chim ngồi cạnh nhau trên ghế, và cũng không lấy làm đặc biệt sao chúng ngồi lặng im lâu như vậy. Khuôn viên khoan thai thổi những đợt gió thu vào lòng ai không báo trước. Kẻ vẽ vời chẳng thiết tha cầm bút, chỉ thấy trôi vào sắc màu xanh ngát của tình yêu không tên. Nó tự do và không trói buộc, nó mạnh mẽ nhưng khiêm nhường, như cơn gió dạt dào lặng im bên nhánh cỏ, như màu trắng ngập tràn tô khẽ những bông hoa, như sắc xanh thăm thẳm nhẹ đơm mầu cho những chồi non. John gạt bỏ mọi sự cắt nghĩa, ngay cả nỗi đơn độc cũng mặc nhiên tồn tại.

Mấy hôm nay, Sophia không đến cho chim ăn. Viện dưỡng lão tổ chức chuyến đi dã ngoại cho những người già. Cụ Laura phấn khởi và nói thật nhiều. Ở viện, cụ là cụ bà hóm hỉnh duyên dáng, và thường hay kể chuyện vui cho tất cả. Cụ thường khẳng định mình không cô đơn. Cũng có những người tin điều ấy.

Kể từ hôm gặp gỡ với Sophia, Peter có một chuyến đi thực tập xa, nên không còn tới khuôn viên nữa. Khuôn viên vắng vẻ nhiều. Lũ chim vẫn quanh quẩn nhưng có chút gì ngơ ngác. Và một ngày của nửa năm sau, Peter trở về. Buổi sáng đầu tiên, anh đi bộ qua viện dưỡng lão, rồi hướng tới khuôn viên nơi cổng sau. Công viên ngập nắng vàng và chim câu vẫn sum vầy thanh thản. Trên ghế đá phía trước mặt, một đôi bạn ngồi bên nhau. Peter nhận ra John, và cô gái anh gặp nửa năm trước. Dù chỉ từ phía sau lưng, nhưng anh không thể không nhận cô gái đã sống cùng tâm hồn anh trong suốt chuyến đi. Một chút ngập ngừng, Peter toan bước đi, nhưng lũ bồ câu bất ngờ vỗ cánh khiến John và Sophia cùng quay lại. Lặng im trong giây lát, ba người cùng bước tới, rồi John cất tiếng: “Đây là Sophia”.

Thêm một chút lặng im, John mỉm cười, và lùi bước ra đi.

Sau lưng anh, đám bồ câu thanh bình dạo bước bên nhau. Khuôn viên xa dần, niềm cô đơn cũng thế. Mọi sự cắt nghĩa đều không quan trọng, khi với một người, nó đã ở phía sau lưng. Còn lại trong John là dư vị của tình yêu, khoan thai xâm chiếm một tâm hồn.

(25-12-2018)

Chia sẻ:

Người ta bảo, mỗi người đều có một linh hồn. Cả cô mèo Maica cũng thế, và chú chó già Lula cũng vậy.

Nhưng mỗi linh hồn không hẳn chỉ nằm trong người đó. Khi người ấy đi, linh hồn cũng đi. Khi người ấy đứng huýt sáo, nằm ngủ gật, ngồi bên cửa số hát ca, hay chạy tung tăng chơi diều, chắc chắn, một phần linh hồn của họ cũng đang như vậy.

Nhưng, đó chưa phải là tất cả.

Rất nhiều khả năng, tất thảy chỉ là những phản ảnh từ một chiếc máy chiếu. Nghĩa là, nếu thử cố nói cho cụ thể, thì những gì ta thấy chỉ là hình ảnh mà thôi. còn thì linh hồn “thực sự” của một người có khi lại đang ngồi chống cằm trên một vì sao.

Mary, một cô bé ưa tưởng tượng, cứ âm thầm cho rằng như vậy, và rất băn khoăn không biết điều mình nghĩ có đúng không. Cô bé trăn trở trong rất nhiều buổi học, ngay cả khi cùng chúng bạn vui chơi, những lúc chiều tà ngồi ăn bánh crepe cùng bố mẹ và mèo Maica, và tất nhiên, là trong mọi đêm có sao. Hễ ban đêm có sao, cô bé không thể không ngồi bên cửa sổ, ngắm chúng say sưa, và tưởng tượng bao điều.

Một hôm, khi Mary đang ngắm sao, một ánh sáng lung linh bạc bất ngờ rơi xuống. Nhưng nó không rơi thẳng và thật nhanh, mà chầm chậm như trong phim quay chậm, và mềm mại như nước, thấm từ từ xuyên qua những vòm mây, rót nhẹ nhàng vào một lỗ hổng bé tí trong một đám mây đang lừ đừ bay, rồi từ đó chảy xuống, uốn éo, điệu đà. Lúc gần tới tán cây táo trong vườn của nhà Mary thì đụng phải làn gió, bèn nảy nhẹ pưng pưng như bóng bay, xong rồi thì cũng rơi hẳn xuống chui tọt vào một trái táo đang chín dở. Mary ngồi im như tượng, mãi mới nhớ ra phải chớp mắt.

Từ hôm ấy, Mary như người nắm giữ một bí mật. Cô bé dành rất nhiều thời gian đến bên cây táo, ngắm nhìn “trái táo kỳ diệu” nửa xanh, nửa chín tròn xoe trên cây.

Mãi, rồi cũng đến một hôm, trái táo tự dưng bật ra một tiếng ngáp, như một kẻ ngái ngủ vừa bị đánh thức. Mary tròn xoe mắt. Trái táo tảng lờ ngáp tiếp một hồi. Rồi thì cũng cất lên vài ba âm thanh làu bàu gì đó.

Mary không hiểu trái táo nói gì. Cô bé đâu biết nói ngôn ngữ của trái táo. Trái táo cứ tiếp tục làu bàu trong khi Mary không hiểu gì cả. Với sự tò mò hết cỡ Mary trở nên bối rối hơn bao giờ hết. Những muốn chạy đi tìm ai đó phiên dịch giúp nhưng lại nhớ ra rằng không ai làm được điều đó. Mary chẳng biết làm gì ngoài việc thình lình ra dấu suỵt để trái táo khoan đừng nói tiếp vội. Lúc này, trái táo mới chịu mỉm cười với cô. Chiếc lá xanh trên cuống ngọ nguậy, cố vươn dài ra như là đang gắng chỉ vào vị trí trái tim trên thân mình tròn căng mụp mạp của mình. Mary gật gật như chừng hiểu ý: hình như, nó nói với mình hãy nghe nó bằng trái tim? Thế là, định thần trở lại, thôi việc tự làm mình rối trí bởi sự khác biệt ngôn ngữ, Mary bắt đầu “lắng nghe bằng trái tim” câu chuyện của trái táo…

Chuyện là thế này, rất đơn giản thôi. Thực ra, Mary không nắm giữ bí mật gì lớn lao cả. Mỗi ngày giờ phút giây, thậm chí còn nhanh hơn cả phút giây, thì trong vũ trụ to lớn này đều có vô vàn sự di chuyển của ánh sáng. Có điều là Mary và nhiều người khác không thấy được điều đó. Thậm chí, thực ra cũng chẳng hẳn có một sự di chuyển, mà đơn giản là những ánh sáng cũng liên tục thở và rung động. Nó chẳng bó buộc bởi không gian, nên rung động và co giãn vô cùng linh hoạt. Cho nên, việc ánh sáng từ vì sao chảy xuống một trái táo chẳng có gì là trọng đại cả. Nhưng, suỵt nhé, cũng to tát lắm đấy. Hẳn rồi, nhất là lại chính là trái táo này chứ không phải một trái táo khác.

Mary lắng nghe câu chuyện nghiêm túc như một nhà thám hiểm. Không dám ngắt nửa lời, Mary đã kìm tận mấy tiếng ho. Trái táo tiếp tục:

– Nhưng có một bí mật dành cho cô bé đấy.

– Là gì? Là gì vậy?

– À…ờ…là tôi!

Mary nôn nóng quá, thế mà trái táo cứ không chịu nói thật là rõ ràng. Thay vào đó, trái táo mỉm một nụ cười thật đẹp. Mary không chịu nổi nữa. Cô bé đặt 2 bàn tay lên ngực mình nơi trái tim, nhìn trái táo như năn nỉ.

Trái táo bỗng rớm lệ, xúc động. Mãi, mới lại chạm chạm chiếc lá xanh trên cuống của mình vào nơi trái tim, rồi nói: Tôi là linh hồn của bác Henry hàng xóm nhà cô đấy!

Mary ngẩn người. Trái táo tiếp tục: Mỗi người đều có linh hồn, cô bé ạ. Linh hồn thì không chỉ nằm trong người ấy. Một phần nó ở trong người ấy, phần khác thì ở trên một vì sao nữa, hoặc trong một trái táo, hoặc trong cả một vì sao lẫn một trái táo cộng lại, tuỳ thích. Mà cô thấy đấy, đến lượt nó, một trái táo lại có linh hồn của mình. Cứ thế, cứ thế, trên khắp vũ trụ này, linh hồn tiếp nối, đầy ắp không gian, đôi khi lồng vào nhau như những con lật đật.

Ừ thì, nói một cách khác, tất cả chúng ta đều có linh hồn, nhưng chúng không thực sự ngăn cách. Cô bé không thể tìm ra một linh hồn ngăn cách đâu. Cụ thể hơn nữa, tất cả linh hồn đều có chung một linh hồn. Thôi thôi, tôi không thể nói cụ thể hơn nữa…

– Xin bác đấy, Henry! Mary bật lên thành tiếng.

“Trái táo Henry” mỉm cười. Cô bé ạ. Cớ gì cô muốn tôi nói thật kỹ những điều mà chính tôi cũng còn không biết.

– Vậy sao bác biết những điều bác vừa nói?

– Tôi được một âm thanh rỉ vào tai. Nhưng nó thì đi rồi.

– Vậy có gì đáng tin?

– Có những điều chúng ta không thể tới được bằng sự nghi hoặc. Thôi được rồi, tôi hiểu cô cảm nghĩ gì. Lời đáp sẽ dành cho những ai sẵn sàng. Đêm đã khuya rồi, cô bé hãy vào nghỉ ngơi.

– Không, bác Henry, cháu không muốn ngủ. Cháu không thể ngủ.

Trái táo ngáp một hơi thật dài, rồi im bặt. Mary cố đợi xem trái táo còn nói năng gì nữa không. Nhưng chỉ còn màn khuya tĩnh mịch. Có lẽ bác Henry đã ngủ. Mary về giường của mình, ngủ một giấc sâu đến sáng.

Chiều hôm sau, vừa tan học là Mary chạy vội đến bên cây táo. Cả món bánh crepe và bánh quy mới nướng thơm lừng của mẹ cũng không thể làm xao nhãng cô bé. Cứ thế mỗi chiều. Nhưng mãi mà chưa thấy trái táo nói năng gì như hôm trước.

Bác Henry là hàng xóm của Mary từ trước cả khi cô bé sinh ra. Bác trồng nho và có bộ râu quai nón rất đẹp. Bác yêu thích trẻ con, nhưng vợ chồng bác không sinh đứa con nào cả. Bác có một đứa cháu trai con của em gái, nhưng nó được gửi đi học ở trên thành phố và chỉ về thăm bác trong một vài ngày nghỉ. Từ hôm biết được bí mật về “linh hồn của bác Henry”, Mary rất hay quan sát bác từ xa, nhưng lại tránh né việc sang nhà bác chơi để được đem về những chùm nho như mọi khi. Dường như, cô bé muốn duy trì một sự không rõ ràng nào đó, dường như, cô tránh né việc nhận thêm những thông tin có thể làm cô lộn xộn và mâu thuẫn với trái táo. Những e ngại đó chưa chắc cần thiết, tuy nhiên, nó giúp Mary không tự làm mình rối bời thêm ít nhất là trong lúc này.

Bác Henry vẫn vậy, kể từ khi Mary biết được mối liên hệ bí mật của bác với trái táo. Bác dường như không biết gì cả. Bác cũng không có bất kỳ thay đổi nào. Sự thay đổi là ở cách Mary nhìn bác. Nhiều lúc, từ bậu cửa sổ nhà mình, Mary như chụp ảnh bằng mắt những dáng đi, đứng, cúi, ngồi từ xa của bác, cách bác đút cho chú chó già Lula ăn những thìa sữa. Đôi khi, bộ râu quai nón của bác cũng cuốn Mary vào một sự tưởng tượng mạnh mẽ.

Một ít hôm sau, trái táo nửa xanh nửa chín vẫn lúc lỉu trên cây. Có điều, phần xanh thay dần bằng một màu chín ửng. Ngày nào Mary cũng đến bên chờ được chuyện trò, nhưng trái táo vẫn lặng im không có lấy một tiếng ngáp. Mary quan sát độ chín dần của trái táo mỗi ngày, và bỗng thoáng giật mình. Hẳn phải có sự thay đổi nào với bác Henry? Sẽ ra sao khi quả táo chín hẳn? Ta phải ngăn không cho con sâu nào đến được trái táo này.

Một chiều về, Mary nghe mẹ nói bác Henry bị ốm. Bác sĩ nói quả tim bác ấy đập không tốt, khiến bác Henry phải nằm bệnh viện. Mary hốt hoảng ra vườn kiểm tra trái táo. Cô bé nghển cổ nhìn thật kỹ và thấy nơi trái tim có chút thẫm màu. Quả táo gần chín hẳn rồi. Mary hoang mang quá, một người sẽ thế nào khi linh hồn của người ấy rất chín? Dù không rõ thế nào, nhưng cô bé không khỏi lo lắng. Cô bỗng thình lình nắm tay cầu nguyện. Cô cầu nguyện rất lâu, chốc chốc lại hé nhỏ mi mắt nhìn xem trái táo có thay đổi gì không.

Cầu nguyện một lúc thì mẹ gọi về ăn tối. Trong cả bữa tối Mary vẫn thấp thỏm không ngừng về trái táo và bác Henry. Cô bé thực sự bồi hồi và căng thẳng. Đôi lúc muốn thốt ra bí mật nhưng lại tự mình ngăn lại. Xong bữa tối, cô lại đến bên trái táo và tiếp tục cầu nguyện.

Sang ngày hôm sau, bất chấp mọi cầu nguyện của Mary, trái táo vẫn chẳng xanh trở lại. Thực sự, nó đang chín rất đẹp và còn thơm nữa. Nhưng Mary lại không muốn điều đấy. Cô bé cứ thấp thỏm lo âu. Cô bé băn khoăn, khi trái táo chín, nếu bố mẹ không hái xuống thì nó cũng sẽ rụng và rơi bịch xuống, và rồi điều gì sẽ xảy ra?

Buổi chiều, bệnh viện báo tin tình trạng bác Henry rất tệ. Đứa cháu trai ở xa đã về thăm bác. Mary không dám theo mẹ đến thăm bác. Cô bé cứ quanh quẩn suốt bên cây táo mỗi khi có thể. Đôi khi Mary như van nài trái táo hãy ngáp và nói chuyện với cô. Tối hôm ấy, khi đồng hồ điểm chuông bảy giờ, trái táo đã rơi xuống thật. Nó rơi xuống đám chăn gối mà cô bé đã bày sẵn bên dưới. Trong khi nửa giật thốt mình nửa nghe ngóng xem nhà bác Henry có tin tức gì không, Mary vội vàng đem quả táo về phòng đặt vào giường. Cô bé lắp bắp cầu nguyện mà chẳng thốt ra nổi câu nào rõ ràng. Cô run lên đến độ không biết làm gì hơn, bèn hai tay nâng trái táo lên đặt gần miệng và thổi thổi nửa như vỗ về nửa như động viên trái táo hãy cố gắng. Rồi thì, cô bé ôm luôn trái táo vào lòng. Hình như người ta nói, khi một ai đó nhận được lòng tốt và tình thương yêu, quả tim người đó sẽ vô cùng sáng rỡ và hạnh phúc.

Bố Mary từ bệnh viện điện thoại về nói, bác Henry sẽ phải trải qua một cuộc phẫu thuật rủi ro vào đêm nay.

Đêm đó, Mary không ngủ. Trái táo nằm trên chiếc gối của cô.

Sáng hôm sau, nó vẫn nằm như vậy. Chim hót ngoài vườn và ánh nắng vàng ngập tràn cửa sổ. Gần sáng, Mary đã thiếp đi bao giờ không hay. Mở mắt, cô bé nhìn ngay trái táo, nó vẫn nằm đấy, vẫn đẹp nhưng khô hơn một chút.

Mary chạy thật nhanh đi tìm mẹ để hỏi về bác Henry. Thật bất ngờ, mẹ nói bác Henry phẫu thuật thành công và sẽ sớm hồi phục. Mary sung sướng trong xúc động, cô bé chạy về phòng, òa khóc như một cơn mưa. Mary quên bẵng tất cả cho đến khi nghe tiếng mẹ rầy la về việc đem chăn ra vườn chơi. Như sực tỉnh, Mary chạy ra vườn, nhìn lên cây. Chỗ của trái táo giờ trống không, với lá và nắng quấn quanh nhau. Chạy về phòng nhanh hết sức, trái táo vẫn ở đó, chín đỏ và thơm một mùi hương thật dễ chịu. Trái táo không ngáp, cười hay nói điều gì. Nhưng giờ thì, Mary không chờ điều đó nữa. Ở thật sâu trong trái tim, cô và trái táo hiểu nhau là đủ. Có những điều, người ta không bao giờ tới nổi bằng sự nghi hoặc. Liệu có ai tin rằng, trong giây phút sướng vui oà khóc, một âm thanh thật minh bạch đã đi thẳng vào tim Mary và nói rằng: môt phần linh hồn của bác Henry giờ đã di cư đến một vì sao khác. Còn một phần sẽ thức dậy khỏe mạnh vào sớm mai trong thân thể bác. Âm thanh giải thích thêm với Mary: Chẳng linh hồn nào là khu biệt và cố định. Nó vẫn rung động, hít thở, và di chuyển hoài như vậy mà ta không hay biết, trong ngôi nhà vô định kết bằng ánh sáng của mình. Có thể, linh hồn của bác Henry từng ở trong trái táo trong vườn nhà Mary, nhưng bởi trái táo còn phải chín, rụng xuống, và được ăn nữa, nên khi thời khắc tới, nó sẽ chuyển tới một chỗ tương hợp hơn. Cũng có thể, một lúc nào đấy, linh hồn bác Henry lại ở trong một chậu hoa. Hãy nhìn xem, áng mây kia đang bay, biết đâu lại là linh hồn của một cuộc đời xa tít trong một tương lai xa xôi. Có thể, giọt mưa rơi trên tay ai hôm qua, lại là niềm xúc động sâu xa của một dòng sông chưa từng nghe nói đến. Cũng có thể, những cánh diều trẻ thơ đã muôn lần nâng đỡ những linh hồn suýt ngã. Tóm lại, mà cũng không thể tóm lại, thì tất cả chúng ta đều có linh hồn. Ở trong một thời đoạn, ta thấy chúng xanh, hay chín. Nhưng khi ta bỏ quên một việc làm lẩn thẩn là đong đếm thời gian và không gian, thì, Mary thấy đấy, chúng là mãi mãi và toàn khắp, phải không? Quan trọng, mọi linh hồn đều khát khao được vun tưới bởi yêu thương và lòng tốt. Khi chưa nhận đủ, linh hồn sẽ hờn dỗi và dễ sa ngã lắm. Nên chúng ta hãy cùng nhau vun tưới thật nhiều, thật nhiều nhé, Mary.❤️

(3-12-2018)

Chia sẻ:

Miyoko tuổi gần 30. Cô có chồng, 2 đứa con, và một thân hình nhỏ nhắn.

Hồi nhỏ, cô ước ao được múa. Nhưng ước ao này huyễn ảo hơn là thực tế. Thực tế, cô chưa bao giờ thử kiễng chân lên như một người múa. Cũng chưa bao giờ để mặc những gót chân nhún lên theo những điệu múa trong tưởng tượng. Miyoko nhỏ nhắn đến mức tự cho rằng mình không thể nào sẵn sàng cho việc tìm đến một người thầy để xin học. Càng không phải một cô gái để đứng trên sân khấu, phô diễn tâm hồn đầy thăng hoa trong những điệu múa, và hoá mình tuyệt đối trong một tình yêu mãnh liệt, nơi có những người xem mà cô sẽ đầy biết ơn.

Thực tế, cô là một thợ may. Bàn tay nhỏ nhắn giúp cô khéo léo với những đơn hàng nhỏ lẻ. Cứ như vậy cô sống. May vá, giặt là, chợ búa, dọn dẹp… là cuộc sống của cô. Những bữa ăn với người chồng và hai đứa con. Những con đường khi mưa khi nắng, dưới những tán anh đào xuyên suốt bốn mùa để đem đồ may tới cho khách hàng, là bức tranh thường nhật của Miyoko.

Một ngày, đoàn múa Mặt Trăng lần đầu đến với Kyoto. Miyoko được hẹn đem đồ may đến cho một vũ công. Đoàn múa Mặt Trăng nghèo, nhỏ, và khiêm tốn, không mấy tiếng tăm nhưng lại khá quen thuộc với ít nhiều khán giả đứng tuổi. Hôm ấy, Miyoko đứng bên ngoài tấm rèm của căn phòng tập như một kẻ vụng trộm, và tận mắt xem người ta tập múa. Cô lặng đi. Một sự rung động trong sâu thẳm, nhưng không tài nào cất tiếng. Miyoko mất nhiều giây lát để nắm giữ lại hơi thở, và rồi bật khóc. Sau khoảnh khắc như hớp hồn, Miyoko rên lên trong tim cảm khái về chất vị của chiều sâu khôn cùng của nghệ thuật…

Miyoko không biết. Cô không thể giải thích, cũng chẳng dám giải thích. Cô chỉ biết mình vừa trở về từ một sự hoà đồng tuyệt đối với những bước chân và điệu múa. Dù không có một trình độ, nhưng Miyoko biết mình đã đi vào một chiều sâu và trở về. Chỉ đơn giản là vậy.

Nhận thấy vẻ mặt và ánh mắt khác thường của Miyoko, người vũ công mà đặt may quần áo đã dành cho Miyoko một buổi trò chuyện cởi mở về nghề múa của mình. Không ngờ sau đó, họ đã chia sẻ một đồng cảm sâu sắc. Người vũ công này tên là Mori. Mori gợi ý cho Miyoko việc bắt đầu học múa. Mori giúp Miyoko gỡ bỏ e ngại bằng việc cho cô xem khiếm khuyết nơi bàn chân của mình: hơn một ngón chân đã vắng mặt từ lâu.

Miyoko xúc động, không ngừng rơi nước mắt. Kể từ khoảnh khắc đó, bức tranh cuôc sống của Miyoko mang một sự thay đổi, lặng lẽ, mà lớn lao.

Dần dà, từ việc chỉ bắt đầu như một người tham dự dè dặt, những biểu hiện đáng kinh ngạc của Miyoko khiến cô đã đến được với người thầy của Mori. Ông Higuchi là một bậc thầy. Ông âm thầm và khiêm tốn, nhưng chẳng dành cho ai quyền đánh giá về mình. Với ông, đỉnh cao nghệ thuật phải nằm trong nội tâm. Nhận thấy Miyoko như một hạt mầm, Higuchi nhận trao truyền nghệ thuật múa cho cô. Dầu Higuchi đã nghĩ, sự việc này không phải để dẫn tới sự sinh ra một nghệ nhân múa mới, mà có thể, Miyoko mãi mãi không bao giờ bước lên sân khấu. Nhưng Higuchi đã xác quyết về việc mình làm, dù không kèm theo một động cơ hợp lý. Ông chỉ nghĩ, múa cũng vậy, đã bắt đầu giai điệu, thì đôi chân sẽ cử động, xoay, múa, và thăng hoa…

Miyoko học múa chung với cả lũ trẻ. Sự nghiêm túc và tài năng của cô khiến cho người thầy mỗi ngày thêm một ngỡ ngàng. Dầu không đặt mục tiêu khổ luyện. Ấy vậy mà, cả Miyoko và thầy cô đã bị cuốn vào luồng khi nào không hay. Trong lặng lẽ, bức tranh cuộc sống của cô thợ may Miyoko thêm những đường nét mới.

Miyoko luyện tập tới nôn ói. Bàn chân toé máu, những vết chai sần dày lên theo thời gian. Ở ngưỡng tuổi 30, sức khoẻ và gân cốt không còn ủng hộ cô. Nhưng Miyoko dường như không lưu tâm một chút nào. Ngã, cô đứng dậy. Chảy máu, cô băng lại. Đau, cô trải qua nó với sự bình tĩnh và kiên định như từ trên trời rơi xuống. Tâm hồn cô hầu như chỉ biết đến luyện tập và thăng hoa.

Vào một ngày rất lâu, rất lâu, sau cuộc gặp quyết định với Higuchi, cô thợ may Miyoko vẫn vậy, nhỏ nhắn, và gày gò hơn nữa, đã trở thành một cô gái múa thực thụ. Ở nơi Miyoko, những ước lệ không còn hiệu nghiệm. Khoảng thời gian ước định mà một nghệ nhân múa cần để khiến mình trở thành, đã trở nên linh động không thể nắm bắt đối với Miyoko. Miyoko mang một chiều sâu không tuổi. Dường như cô có một sự tự do nào đó khác với chúng ta. Khi thời khắc chín như trái cà chua lịm đỏ, khi mây đã đổ mưa và nắng rào lên mặt đất, thì chẳng định kiến nào giữ nổi hiệu lực. Thay cho nỗi ngần ngại bao năm trở về trước, giờ Miyoko thực sự là một cánh cửa mở. Chẳng sự e ngại nào kiềm giữ nhịp chân con thiên nga ấy, chẳng định kiến nào ngăn cản đôi cánh ấy giang bay như sự phô diễn viên mãn những sắc màu ánh sáng. Miyoko đã hoá giải nghi ngại âm thầm trong bao năm của Higuchi. Và một ngày đẹp trời, ông tuyên bố Miyoko sẽ bước lên sân khấu lần đầu tiên như một thành viên chính thức của Mặt Trăng. Và điều đặc biệt hơn cả, Higuchiđã dành cho Miyoko một điệu múa mà cô sẽ là nhân vật chính, điệu múa mang tên: “Vũ điệu”.

Sau bao nhiêu năm trời, Mặt Trăng vẫn là một đoàn múa nghèo, nhỏ, và khiêm nhường. Hôm ấy, Mặt Trăng công bố biểu diễn với sự xuất hiện đặc biệt của Miyoko. Tuy không có quy mô lớn lao và quảng cáo rầm rộ. Nhưng với thực lực và sự quen thuộc lâu năm với lượng khán giả nhất định, buổi diễn hôm ấy đã có rất nhiều người đến với Mặt Trăng, chờ đón thưởng thức sự cống hiến của một nghệ nhân chưa bao giờ xuất hiện.

Trước khán phòng kín chỗ, Higuchi giới thiệu về Miyoko, một cô gái múa lạ kỳ. Dầu không định trước là sẽ nói thật nhiều, nhưng niềm xúc động đã dẫn dắt Higuchi nói nhiều hơn ông đã tưởng. Và sau lời kết, ông khóc. Khán phòng lặng im.

Âm nhạc nhẹ nhàng, từ từ vang lên. “Vũ điệu” bắt đầu….

Cả khán phòng im lặng, lắng hồn vào trong âm nhạc. Trăm đôi tai, trăm đôi mắt, và cả trăm tâm hồn, tất cả quyện hoà cùng vũ điệu.

Bỗng, đâu đó từ giữa nơi khán giả, khẽ bật lên tiếng nức nở, như những giọt âm thanh từ giếng sâu vô tận. Tiếng nức nở mau dần xen lẫn tiếng nấc, nhịp nhàng ti tỉ như ai đó đang không tài nào ngăn hãm được niềm xúc động. Chung quanh là bầu im lặng chứng nhân. Cả khán phòng hướng về phía tiếng khóc. Nửa tò mò nửa rung động, không ai nỡ chen vào một âm thanh khác. Đồ rằng ngay cả những trái tim cũng không nỡ đập những nhịp riêng rẽ, mà tất cả như cùng một mạch thở. “Vũ điệu” vẫn thăng hoa và giai điệu như lắng dần về một thứ im lặng như chất nền tinh tế của mọi hoà quyện.

Đó là tiếng khóc của Miyoko, một phần linh hồn của cô đang lặng lẽ như một “người xem” dưới khán đài. Tiếng thổn thức dài mãi, không to không nhỏ, ti tỉ và bất tận. Cô dõi theo điệu vũ, và niềm hạnh phúc chín muồi của Higuchi. Cô chứng kiến hoá thân của cô gái Miyoko như đoá hoa diên vỹ hiến mình trong vũ điệu. Những tháng năm đã qua cất lên tiếng hát của mình. Những điều kỳ diệu hiển bày đậm nét trước một Miyoko vừa nhận ra mình như một chứng nhân vĩnh cửu.

Cô gái Miyoko tiếp tục múa. Từ đôi mắt cô, cuộc sống và nội tâm không còn ngăn cách. Dưới khán đài, những khán giả cũng dần bật khóc, như một sự lan truyền. Chỉ biết, những giọt nước mắt lung linh trong một tối khuya, đã làm nên một thứ ánh sáng cho góc phố nơi gánh múa Mặt Trăng biểu diễn. Thứ ánh sáng mà chỉ Miyoko mới thấy. Hoặc có thể, ai đó khác cũng sẽ thấy, nhưng chắc chắn, phải là những tâm hồn im lặng, hơn nữa, còn phải là những kẻ ngủ khuya nữa…

(Truyện ngắn đầu tiên, 27-11-2018)

Chia sẻ:

Lan trồng một cây cúc nhỏ, khi cha của cô lái xe đến toà.

Chi xem mưa vây quanh một hố trũng.

Còn lại, người đến tiệm trà phục vụ, người cắn mẩu sô cô la, người biên thư cho mẹ.

Đó là câu trả lời khi thầy giáo tiếng Anh mới tên John hỏi học trò đã làm gì sáng nay.

Một học viên không nói gì. Thầy hỏi lần nữa. Cô đáp: Tôi chết.

Nháy mắt, cô cười. Thầy giáo John nhanh chóng bắt đầu bài học mới.

Cuối buổi, mưa đổ nhẹ ngoài hiên. Ai hay vội vã thì luôn vội vã. Tất cả ra về, còn lại Giang, cô gái đã “chết” sáng nay, và người thầy giáo trong chiếc sơ mi màu blue, ngồi sửa soạn giáo trình.

Khi hạt mưa nhỏ lại, tiếng tí tách li ti, Giang cất lời: Anh làm gì sáng nay?

John trả lời: Tôi đi làm.

– Anh làm công việc gì?

John nháy mắt: Tôi làm thần chết.

Chiếc đồng hồ cát trên bàn nhẹ xoay thật khẽ, giọt mưa cuối cùng êm đềm ngứt.

Không có gì bất thường khi mọi thứ đã vốn không bình thường.

Giang mắc bệnh tim bẩm sinh. Mỗi nhịp tim của cô đều là một món quà. Nó luôn hát: Thêm một nhịp, thêm một nhịp, lại thêm một nhịp…

Giang có một status kinh điển hay đăng trên Facebook: “Vâng, xin nhé. Cám ơn!”

Bạn bè hay like hoặc cười ha ha mỗi khi Giang đăng tút như vậy. Họ chẳng comment gì cả. Và cũng không hiểu gì cả.

Một thời gian, John trở về nước. Trước ngày rời đi, lớp học tổ chức một buổi đi chơi.

Hôm ấy, nắng dồn dập. Tập thể cùng nhau lên vùng rừng. Chim hót véo von. Gió vui đùa trong từng kẽ lá. Ai cũng hát. Thầy John không ngừng mỉm cười. Giang lặng yên ngắm nhìn sự vận động chan hoà, không nói, và không hát một câu.

Đôi ba làn gió thổi rợn về chiều. John lặng lẽ dần. 

Đến bây giờ, anh vẫn không thể cắt nghĩa sự bình yên đến lạ mỗi khi không gian chung quanh có sự tồn tại của một cô gái, đó là Giang.

Dù không mấy chuyện trò, và khoảng cách chưa bao giờ gần hơn 5 mét, nhưng John luôn thấy nó, một sự thanh bình và êm ái. Nhưng chiều nay, một chút rợn lòng nơi chàng trai ưa mặc áo xanh blue.

Vài ý nghĩ quẩn quanh, John bất ngờ lên tiếng hỏi cô gái tóc dài đang ngồi tựa lưng vào cây trò già: Hey, sáng nay em làm gì?

Giang không đáp gì. Đôi tấm lưng quay lại. Nắng chiếu nhẹ trên khuôn mặt cô gái, nơi mi mắt đang dần rủ xuống. Ai đó trêu đùa: “Sống lại chưa cô gái? Buổi chiều rồi!”

Giang vẫn lặng yên, như những gì yên lặng.

Một nhịp thở, hai nhịp thở, ba nhịp thở…

Chợt quên hết tất cả mọi thứ trên đời, ngay cả lý lịch bản thân cũng đánh rơi tan biến, John đứng dậy, tiến đến bên cô gái. Mỗi bước chân không nhanh hơn một nhịp thở sâu. Gió và nắng dạt dào mà chậm rãi khôn cùng. Không gian ngưng đọng như mọc mầm trên mỗi phút giây.

John đến nơi, khuỵu mình xuống cỏ, dùng đôi bàn tay mình nắm xiết lấy bàn tay Giang. Lạnh giá và ấm nóng, xiết chặt lấy nhau.

1 thế kỳ trôi qua…

Lan trồng một cây xương rồng nhỏ…

Chi ngắm tuyết rơi trên những nóc xe tắc đường…

Ai đó khuấy tách sô cô la đắng…

– Còn Giang, em làm gì?

– Em vừa thức dậy, dùng cà phê sáng.

John mỉm cười: Tôi cũng vậy!

Sau lưng John, cát chảy nhẹ trong chiếc đồng hồ. Ngoài cửa sổ, sự sống đầy ngập tình yêu.

(11-8-2019)

 

Chia sẻ:

ABOUT ME

"Khi ngôn ngữ chưa tới, 
thơ đã ở đấy rồi"

"Với tôi, 
thơ là của các vì sao"

(Hạnh Dung)
 

SOCIAL MEDIA

NHẬN TIN QUA EMAIL

BÀI VIẾT NỔI BẬT