Skip to content

Bài viết trong chuyên mục: Tản mạn

Nói triết lý bâng quơ, tỉnh queo, thì đó chính là ca từ của bài “Ngẫu Nhiên”. Tôi thích cách bâng quơ đó.

Tuyên bố, “không có đâu em này, không có cái chết đầu tiên. Và có đâu bao giờ, đâu có cái chết sau cùng”. “Em”, chắc 
đâu phải không biết điều ấy. Anh, liệu có cần báo tin lần nữa, về điều mà ai cũng đã hiểu.

Thế, nên phần hồn của “lời tuyên bố” chẳng phải là thông tin. Mà, lại là cái cách thốt lên, như bâng quơ, như nhẹ bẫng, 
một kết luận giản đơn, giản đơn đến bão hoà trước đôi tai nhân gian.

Cách giản đơn đó, trong nhịp điệu câu hát như còn xen cả chút vui, chút cười, chỉ có thể thốt lên bởi tâm hồn đã thấm thía,
khiến “triết lý” chẳng còn nặng lời, nặng chữ, mà hoá thành nỗi mặc nhiên, nhẹ như hoa mai.

“Hòn đá lăn bên đồi, hòn đá rớt xuống cành mai. Rụng cánh hoa mai gầy, chim chóc cất tiếng qua đời.”

À, giờ, mới “khó” thêm cho “anh” một chút. Có vẻ, anh đang muốn diễn giải, cho em nghe, cho em thấy, hay cho chính 
anh tự mình lại thốt lên lần nữa, một thoáng cắt nghĩa mà anh cũng chẳng thể bảo, là nó lâm li hay là vô tình có nghĩa gì 
gì trong tim.

Hòn đá thì lăn bên đồi, vì thế?!
Rớt xuống cành mai?
Cành mai vì thế
Gầy gầy rụng xuống?
Chim chóc vì thế?
Líu lô, líu li
Hay là ngẫu nhiên?
Hay là chúng cũng như anh
Thấy hoa như có
vẻ đang
qua đời…

Tôi tưởng tượng, “Trịnh” như đang giải thích cho một cô em bé nhỏ nào. Ban đầu, như một “tuyên bố” dường hơi to, về 
một khẳng định dường hơi nhỏ. Rồi để “em” hiểu, “anh” giải thích, bằng chuyện hòn đá, bằng chuyện cành mai, bằng 
chuyện tiếng chim. Chúng dường ngẫu nhiên, cũng dường có nghĩa. Nhưng, cũng chẳng thể tỏ tường hơn lắm. Nên, như 
“anh” đã rốt lại, vẫn là “tự mình biết riêng mình, và ta biết riêng ta”.

Cái cách đung đưa giai điệu “tự mình biết riêng mình”, cũng toát lên chất nhâm nhi, nửa như tự thoại, nửa như cùng ai.

Rồi đến phần hai,

“Mệt quá đôi chân này, tìm đến chỗ ghế nghỉ ngơi. Mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn đời”

Cái cách thốt lên từ “quá”, cách âm thanh ở cùng nó, cũng làm cho tôi đang nghe dở, cũng phải sững mình hỏi lại, liệu đây
có thực là lời than mệt? Sao vừa thoáng than than thở thở, lại đan xen chút âu yếm. Sao vừa thoáng chút bi, lại dâng dâng
chút thiết tha, một thiết tha bất tận. Chữ “quá” nghe không đau khổ, mà thấy thương thương thôi.

Rồi tới câu, “kìa còn biết bao người, dìu dặt tới quanh đây”, thì quả đúng rồi. Trịnh không bi ai thật mà. Cái chết nơi vòng 
đời trong mắt ông, dẫu bi nơi người và không khỏi chút lâm li nơi mình, thì trong đáy trái tim của Trịnh, nó cũng như cấu 
phần của một cái ôm bất tận. Cuộc chết, mà sao nghe như một buổi hẹn, một chốc nghỉ ngơi, hay một lần ngả lưng vào 
mãi mãi.

Tôi cảm nhận được từ bài hát, trạng thái của một người lúc thì dường cảm thấy mình có thể mô tả được, lúc thì lại dường
cảm thấy mình chẳng thể mô tả được, một cảm khái nhân sinh mà mình lúc chỉ chàm chạm nhẹ, lúc lại như khoả, như bơi, 
như uống mình vào trong, mà chẳng thể phân đôi với nó.

Bài hát “Ngẫu nhiên”, từ tên đặt, từ ca từ, đến giai điệu, đều nhất quán một phần hồn. Nghe “Ngẫu nhiên”, tôi thấy mình 
như nhân chứng, như người xem phim, mà trong đoạn phim ấy, cũng có một người đang nhân chứng, đang nghe kể 
chuyện, mà trong câu chuyện ấy, lại cũng có một người, mà không, rất nhiều người, cùng đang xem phim, cùng đang nhân
chứng, cùng đang kể chuyện, một câu chuyện bất tận…

“…hòn đá lăn bên đồi, hòn đá rớt xuống cành mai…”

Hôm kia, chợt trong đầu tôi nhớ lại bài “Ngẫu nhiên”. Nhẩn nha hát vài câu, thì tôi thấy, chính cái bài hát mà mình xưa 
nay ít thích của Trịnh này, lại hay hơn cả mọi bài khác của ông ấy. Nó hay chẳng vì phần nghĩa, mà vì phần hồn. Nó hay 
chính vì nó đã bâng quơ, đã nhẹ tênh. Nó hay vì cách người thốt lời, cách nghĩa quyện vào mây, vào gió, bẫng nhẹ như 
không.

(4-5-2026)
Chia sẻ:

Nỗi buồn của sự lớn lên
Là trông thấy những hồn nhiên phai dần...

Vâng, ai ai cũng đều đang lớn lên. Trẻ con, người lớn, người già, tất cả đều đang lớn lên. Với người trưởng thành, 
chúng ta nói họ già đi. Nhưng, thực chất cũng là lớn lên, phải không nào.

Mỗi giây khắc đi qua, chúng ta trải nghiệm sự lớn lên. Về tuổi đời, về trí tuệ, và, cả sự phôi phai nữa.
Phôi phai, cũng là dấu hiệu của lớn lên đấy. Khi trắng hơn màu tóc, khi nhạt hơn mộng mơ. Khi buông dần, buông dần 
những truy tìm hư ảo. Có khi, một tâm thức thu vào, một linh hồn co nhỏ, lại làm bập bênh cho sự lớn hơn thêm, sự 
vươn cao hơn, của tình thương và trí tuệ.

Thế, những người già 80, 90, 100 tuổi, họ có đang lớn lên không? Có chứ. Dầu đến ngưỡng cuối của đời, họ vẫn không 
ngừng lớn lên. Thậm chí, lớn lên đến độ, vươn bước sang một cuộc đời mới, để rồi, lại lớn lên, lớn lên...

Vậy tóm lại, chúng ta lớn lên mãi sao?

Vâng, mãi, chứ còn sao nữa ;). Không chỉ chúng ta đâu, cả hành tinh này cũng thế, phải không nào.

Ai không sợ, chứ tôi thì sợ tuổi già ghê lắm. Nhưng nếu xem đó chỉ là lớn lên, thì cũng đỡ sợ hơn một chút : ))

Thôi thì, đằng nào cũng phải lớn lên, ta hãy lớn lên huy hoàng, long lanh và diễm lệ :)). 
Đùa chút thôi, ý tôi là, hãy lớn lên bổ ích, lớn lên có nghĩa, lớn lên bớt si đần bướu cổ, bởi vì, "bản chất của chúng sinh là 
vô minh". Miễn chối nhé! :)) <--Là tôi tự bảo mình như vậy.

Trước thềm năm mới, chúc tất cả mọi người "lớn lên" thật bình an!!!

Chúc trẻ con luôn được yêu thương, được tôn trọng, được nghe chúng nói, được hiểu chúng nghĩ.

Thế giới này nếu do trẻ con làm chủ, như những hoàng tử bé, chắc sẽ không nhiều màu xám xịt như bây giờ. Những 
tâm hồn trẻ con hồn nhiên và đầy tình yêu, mới chính là chiết xuất mạnh mẽ từ trí tuệ, từ trái tim thượng đế. Thực sự, 
nhiều người trong chúng ta mắc bệnh lớn ngược. Càng nhớn lại càng còi cọc, lùn tịt, và trồng cây chuối đi đầu xuống 
đất, như khủng long alosaurus đầu to óc/tim bằng quả nho. Nên, muốn lớn lên diễm lệ, ta hãy học trẻ con nghe! :)
Chia sẻ:
Con trai lên lớp 5, được học bài thơ "Tiếng hạt nảy mầm". Mẹ yêu bài thơ quá, bèn viết ra những dòng cảm nghĩ.

(Đề bài tưởng tượng: Em hãy phân tích và nêu cảm nhận của mình về bài thơ “Tiếng hạt nảy mầm” của tác giả Tô Hà.
Và sau đây là bài (thử) làm của em Hạnh Rung (học sinh lớp 10) ; )

“Nếu không biết rằng, bài thơ “Tiếng hạt nảy mầm” được viết cho các em nhỏ khiếm thính, chắc, em sẽ không thể hiểu 
được ý nghĩa, và cảm nhận được niềm rung cảm cùng yêu thương sâu sắc ẩn chứa trong bài thơ đến thế.

“Mắt sáng”…

Mở đầu bài thơ, đã chạm vào hồn em hình ảnh đôi mắt học trò sáng long lanh. Nhưng, đôi mắt ấy không kèm theo một
tiếng reo, một chút nói cười, hay thanh âm thường thấy trong một lớp học. Bởi vì, đó là lớp học dành cho các em khiếm 
thính, nơi cô trò lặng lẽ trao đổi, bằng những biểu cảm gương mặt, và cử chỉ đôi tay.

“Mắt sáng, nhìn lên bảng”

Dường như, đôi mắt đã thay thế tất cả, bao âm thanh không thể nghe, bao lời nói không thể thốt, dường chỉ chan chứa vào
đôi mắt.

“Lớp mươi nụ môi hồng”

Cũng lặng lẽ như mắt, là những nụ môi hồng bé xinh của những trò thương. Trước những ánh mắt, và “nụ môi” ngoan ấy, 
cô giáo “mở lời”, và:

“Đôi tay cô cụp mở
Báo tưng bừng thanh âm”

Trước bao chăm chú của học trò, thì cử chỉ bàn tay cô được quan sát đầy chú ý. Tay cô cụp vào, như đơm kết bao chữ 
nghĩa. Để khi tay cô mở, dường bao thanh âm tưng bừng được cất lên, “báo” ý nghĩa của mình.

Khổ thơ đầu tiên, dường miêu tả những phút giây đầu của tiết học. Những câu thơ không đưa em vào sự cảm nhận âm 
thanh theo cách thông thường, mà dường như, âm thanh đã bện trong khung cảnh, nền nã, mà rộn ràng.

Khi những phút giây đầu qua đi, tiết học đang

trôi trong lặng lẽ, có lẽ, cả cô và trò đều đang chăm chú vào bài học, nên, chẳng ai biết có “cánh sẻ”, cho đến khi nó:

…"vụt qua song”

Ừ nhỉ, cánh sẻ làm sao gọi được sự chú ý của các học trò đang chăm chú kia đây. Nên, chắc, khi cô bé, cậu bé nào nhác 
thấy bóng chim sẻ, thì nó đã “vụt qua song” mất rồi. Mọi tiếng líu lo, mọi tiếng ríu rít, cũng chỉ có thể vụt qua ngang mắt 
ai đó, mà chẳng thể nghe thật rõ, thật rõ.

Vì thế, nên dù chú chim sẻ có cố tình “náo động” đến inh ỏi, thì tiếng inh ỏi ấy, cũng lại chỉ được “trông thấy” lẫn với 
“tiếng nắng” vậy.

Nắng thì có “tiếng” bao giờ. Nhưng khi tất cả đều nhìn bằng mắt, nghe cũng bằng mắt, thì ai có thể thuyết phục những 
cô bé, cậu bé không tin rằng, nắng cũng biết hót?

Câu thơ tiếp theo “Hót nắng vàng ánh ỏi”, mới đọc sẽ thấy lạ lùng ghê lắm. Nhưng cảm một hồi, lại thấy nó “thương” 
làm sao.

Khi nắng cũng muốn hót thay chim cho bé “nghe”, thì trong những ánh mắt long lanh ấy, cùng lắm, nắng cũng chỉ gắng 
sức ánh lên, thay tiếng chim, lấp lánh cho bé trông.

“Ánh ỏi”…

Thực ra, trong tiếng Việt không có từ “ỏi” riêng lẻ. Vì sự gần gũi của âm tiết, và hiệu ứng liên tưởng âm thanh, nên có 
thể, từ khi một ai đó buột thành tiếng âm thanh “inh ỏi” ấy, thì nó thực nằm trong tiếng Việt từ bấy đến giờ.

Nên, em cũng liên tưởng, khi tác giả viết đến câu thơ này, có thể, một cảm nhận nội tại nào đó cũng đã khiến nhà thơ buột 
ra “âm thanh“ “ánh ỏi”, và đặt nó đó chăng? “Nắng vàng ánh ỏi”, nó như sự hoà quyện khôn xiết giữa cái thấy và cái 
nghe, giữa “ánh” của nắng vàng và “ỏi” của tiếng chim. Chim thì có hót inh ỏi bao giờ không? Có đấy, đó là trong cái 
nghe, cái thấy và tâm hồn của những trẻ thơ, thì tiếng chim tinh nghịch inh ỏi và đầy dễ thương hoàn toàn là có. Và, bởi 
không thể nghe, nên các học trò khiếm thính chỉ có thể vừa trông, vừa tưởng tượng một âm thanh mà chúng ta không 
từng nghe bao giờ. “Ánh ỏi” không chỉ hiện lên rung động của thanh âm hoà quyện cùng ánh sáng, mà còn nói lên niềm 
ao ước khôn cùng được “nhìn” thấy tiếng chim, được “nghe” thấy ánh nắng, được nương vào mọi giác quan để cảm 
nhận thế giới xung quanh.

Và rồi thì, dù cánh sẻ vụt qua và nắng vàng có hót “ánh ỏi” ngoài song, thì các bé vẫn lặng im chăm chỉ, dõi theo làn 
môi cô giáo mấp máy.

“Các bé vẫn lặng chăm
Nhìn theo cô mấp máy”

Hai khổ thơ đầu tưởng chưa nói gì nhiều, mà đã nói thật nhiều. Những câu từ sáng trong, giản dị, mà như dẵn em vào 
trong bầu không khí lớp học. Một niềm xúc động thương thương lắm, mà em không tài nào mô tả cho hơn. Tuổi thơ của 
bé, ao ước của bé, thương yêu của cô, ao ước của cô…Tất cả, cứ chan chứa, trong từng cụp mở, trong từng mấp máy, tha 
thiết làm sao.

Và chúng ta, làm sao hiểu:

“Sau ngón tay cô đấy
Là tiếng hạt nảy mầm
Tiếng lá động trong vườn
Tiếng sớm mai mẹ gọi”

Khi tay cô cụp mở, chỉ có các bé thơ mới biết, bao âm thanh đang nở tưng bừng. Từ bàn tay của mình, cô giảng biết bao 
điều, cô kể biết bao chuyện. Từ đôi bàn tay đó, mà trẻ sẽ “nghe” thấy tiếng hạt nảy mầm, tiếng lá động nhẹ trong vườn, 
và cả tiếng mẹ gọi vào những buổi sớm mai. Bao tưởng tượng, bao hỏi đáp, đổi trao liên tục giữa đôi tay cô và đôi 
mắt bé. Bao khao khát mấp ma mấp máy, thốt lên trong những con tim.

Và, không chỉ tiếng lá, tiếng hạt đâu, còn có cả:

“Tiếng cuộc đời sâu vợi
Con tàu biển buông neo
Ngôi sao mọc rừng chiều
Vó ngựa ran vách đá”

Tới khổ thơ này, tiết học đã trôi trong sâu lắng. Nó không còn chỉ trong khoảnh khắc ấy, mà dường như, ta thấy hình 
bóng thời gian, thoắt bay qua vùng trời ước vọng, và thoắt lại trở về. Xuyên suốt nó, là niềm khao khát được nghe, trong 
sâu, trong xa, tiếng của cuộc đời.

Khi những ao ước bay cao, bay xa. Khi những tưởng tượng trẻ thơ được nâng cánh trong tâm hồn, thì;

“Bao nghĩ suy vất vả
Trong mắt người lo toan
Để từng âm có nghĩa
Bật lên từ môi em”

Để tâm hồn thơ trẻ bay cao, để tri thức và hiểu biết trao vào tay bé thơ, thì “từng âm có nghĩa” đã vượt qua vất vả, nhẫn 
nại “bật lên từ môi em”. Đằng sau tất cả những điều đó, chính là đôi mắt lo toan, là trái tim đầy nghĩ suy của cô, của thầy, 
của cha, của mẹ.

Xuyên suốt bài thơ cho đến giờ, là niềm xúc động cứ nhẹ tênh mà tới. Dù tác giả chẳng cố dùng những câu chữ đầy rung 
cảm, mà sao, em vẫn xúc động tràn đầy và thương thương đến thế.

“Nghe cánh vỗ chim non
Trước diệu kỳ tiếng hót
Giữa hồn nhiên lớp học
Ai nụ cười rưng rưng”

Khi tiết học vừa kết, cũng là lúc bài thơ đi vào khổ cuối. Lúc này, tiếng hót và vỗ cánh của chim non đã tràn ngập diệu kỳ. 
Hai câu thơ thôi, mà như sáng rỡ không gian lớp học. Không chỉ là tiếng chim ngoài song cửa, mà còn là “tiếng hót”,
“tiếng vỗ cánh” của bầy trẻ thơ như những chú chim non. Bầy trẻ hồn nhiên, hạnh phúc, vô tư. Và, giữa sự hồn nhiên ấy, 
có nụ cười bên lề, rưng rưng, và đầy tha thiết…

(5-10-2024)
Chia sẻ:
Tôi từng nghe ai đó nói: “ghét nhất là thơ”. Rồi, “ghét nhất cái...bọn làm thơ” ; )

Gần đây, tôi được nghe một nhận xét đỡ “ki bo” hơn, tức có giải thích hẳn hoi chứ không phải nêu mỗi yêu ghét.
Đại ý, thơ là cái thứ văn ít tuân thủ ngữ pháp. Thay vì viết câu cú chặt chẽ, đầy đủ thành phần, và diễn đạt ngọn ngành, 
thì “bọn làm thơ” lại dường như không đủ cái trình độ ấy, nên mới tồn tại trên đời cái gọi là thơ.

Họ nói, thì không phải là không có lý . Tuy nhiên, yêu cầu của văn khác yêu cầu của thơ. Quả thật, nếu đem cách thức của
thơ mà dùng cho văn, thì không bao giờ bài văn đạt được mục đích lẫn năng lực tối ưu của mình. Trong khi viết văn, 
người viết không thể dùng “tư duy thơ”. Ngược lại, nếu cứ khư khư “tư duy văn”, thì trên đời sẽ khó có bước đột phá kỳ 
diệu mà đẹp đẽ, của người nương hờ ngôn ngữ mà đáp hồn tới những vì sao xa, hay những cảnh tượng tâm hồn vừa sâu 
lắng, vừa cao thượng.

Tư duy văn, chính là mạch não, hay lối vận hành tư duy cùng nhãn quan của người viết trong thời điểm “vận bút” (mà 
thực chất là vận não), để trình bày cho đặng một nhân sinh quan, một vấn đề, hay sự nghĩ cảm nào đó, sao cho người đọc
có thể theo dõi và quan sát nhận thức của tác giả.

Thơ, thì có cái giống, và cũng có cái khác. Cái giống là, thông qua ngôn từ, người đọc cũng có thể theo dõi và quan sát
sự biểu đạt của tác giả. Nhưng, cái khác ở chỗ, “mạch não” của nhiều kẻ làm thơ, lại là một nẻo gần như khác hẳn. Bất kỳ
ai, khi não đang trong “chế độ” làm thơ, hay nói cách khác, là cảm xúc đương “tràn trề nhãn quan thi sĩ” , thì cái lúc ấy, 
“dẫn truyền thần kinh” đã vận hành theo cách khác rồi. Mọi chuyên chú vào sự chặt chẽ nơi cú pháp nếu không thể lắng 
xuống, người viết sẽ không thể dẫn mình vào “tư duy thơ”.

Tư duy thơ, thì ngoài tư duy ngôn ngữ thông thường, nó còn phải đáp ứng cho “khổ chủ” một năng lực tức thời, là lột tả 
đầy ắp và sống động “cảnh giới tâm hồn” mà người ấy đang ở trong. Thay cho thiên về mô tả khách thể, họ thiên về mô tả 
tình trạng cảm thức nơi mà chủ thể đang quan sát, và hoà quyện sâu sắc với khách thể ấy. Ví dụ, để mô tả sự ngập tràn 
rung động không khí, nếu viết chặt chẽ là “Không khí đang rung động tràn ngập”, thì chỉ đưa người đọc vào sự cảm nhận 
giống như “tra từ điển”, tức là tra cứu lại trong não của mình kinh nghiệm về tình trạng tương tự của không khí, sau đó, 
mới khởi lên cảm xúc nhợt nhạt. Nhưng nếu dùng “tư duy thơ”, tác giả có thể sẽ viết khác hẳn, không cần nhắc đến nửa từ
không khí, mà vẫn đưa thẳng người viết vào trạng thái ngửi hít oxy tức thời mà không hay .

Điều hay, là ở chỗ, người tác giả lại không hề vướng mình trong chủ định dẫn người đọc đi đâu, về đâu cả. Bản thân 
người ấy cũng chan chứa trong xúc cảm của mình, và chỉ đơn thuần muốn trút ra bằng lời.

Khi đó, họ sẽ không tài nào “chọn” ngôn từ theo cách vận hành của văn xuôi, tức thứ văn “xuôi dòng tư duy” được nữa. 
Thứ mà họ đang “xuôi dòng” đã phức hợp hơn nhiều. Vừa là tư duy, vừa là tâm cảm, vừa là sự huy động phi thường sức 
biểu đạt và cảm thốt, tựa hồ như “bê” nguyên một mặt hồ vào trong đôi câu chữ, “bê” nguyên một cánh chim đang đong 
cả bầu trời vào vỏn vẹn trong một góc vở, hay, “bê” nguyên một tình yêu sâu lắng không kể xiết, vào trong đôi từ bâng 
quơ bên nhau mà thôi.

Khi đó, cái tài tình là, người đọc sẽ chẳng hiểu vì sao, mà khi đọc lên những vần thơ này, mình lại có nhiều rung cảm đến 
thế. Cứ hồ như, cái năng lượng, cái rung động của tình trạng tâm mà người viết đã có, nó được hiện hài song song nơi 
người đọc, mà dường rất…chẳng tại ai vậy.

Muốn truyền đạt như thế, người viết buộc loại bỏ thật hào phóng những từ ngữ mà họ cho là “dư thừa”, chỉ chắt lấy 
những gì cô đọng nhất, hàm súc nhất. Năng lực ngôn ngữ khi này không còn giống người đi bộ hay chạy marathon nữa, 
mà giống vũ công ballet chỉ nhón trên đầu ngón chân vậy. Diện tiếp xúc với mặt đất gọn lại chỉ bằng một mũi chân,
nhưng toàn bộ vũ điệu lại thăng hoa trên mũi chân ấy. Cũng vậy, có khi, sự nương dùng từ ngữ “thoái suy” đến tối thiểu, 
nhưng rung cảm và biểu đạt lại mở đến cực đại. Mạch ngôn ngữ, hay tư duy não lúc này đã cực kỳ sâu lắng. Sự gắn kết 
và “lô gích” giữa các nhịp tri cảm không còn phụ thuộc những thành phần ngữ pháp, mà chính là mạch của tâm. Mạch 
của tâm tự đưa vào tay người viết một trật tự, khiến họ tự động chiết xuất ra những từ ngữ mà dù không nghĩ ngợi nhiều 
theo lối tư duy cú pháp, nó vẫn trật tự đầy mềm mại. Và chính mạch của tâm đó, làm nên những cây đào rất sâu vào vùng 
ngôn ngữ, khiến nhát tư duy trở nên sâu, sâu nữa, sâu nữa, mà “hệ quả” của nó lại là sự phả lên bề mặt những từ ngữ 
thanh nhẹ, mà mênh mông trắc ẩn.

Thế nên, không phải là “bọn làm thơ” không tuân thủ ngữ pháp đâu. “Chúng” tuân thủ theo một cách khác, để rồi, từ này 
xếp cạnh từ kia, âm điệu này bên âm điệu kia, tự nhiên như nhịp đập bên trong, mà cứ tự bày phơi cõi tâm, và cũng “mời 
mọc” ta phiêu phiêu theo thứ linh cảm mà khi ấy, đã chẳng còn là của riêng ai…

Giờ, ta cùng thử đọc một câu thơ của nhà thơ Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến” mà chúng ta đã học ngày xưa nhé:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Đấy, nào ai nỡ đem câu thơ này diễn xuôi cho đề huề cú pháp đâu. Vì chỉ có như vậy, nó mới đẹp, mới buồn, và ngân 
mãi trong hồn ta, phải không… 

(2-10-2024)
Chia sẻ:

Bao năm không ăn mứt sen trần, tự dưng hôm qua tôi lại thấy thèm. Đêm hôm, còn lướt mạng xem ngoài Ninh Hương Hàng Điếu như ngày xưa tôi biết, thì còn chỗ nào có mứt sen trần ngon hơn không. Ngày xưa, tết nhất muốn có mứt sen trần, bà ngoại tôi thường đi bộ ra Hàng Điếu để mua về. Mứt sen để trong làn, bà ngoại xách trên tay. Bà đi guốc mộc, cây xanh nghiêng nghiêng trên phố, có không gian be bé trú trong bóng bà, bà đi đâu, nó theo đấy, cười khúc khích với mặt đường.

Mứt sen trần ơi mứt sen trần. Ta biết vì sao ta lại thèm mi rồi. Ký ức ùa về tế nhị chưa, làm rộn quả tim ta chỉ bằng đồ ăn thức uống, bằng cái món mứt sen nhỏ như khuy áo. Cái món mứt sen là không ăn nhiều được đâu, 1 đến 2 hạt thôi, ngậm trong miệng đến tan hết đường ra, rồi từ từ ăn cái hạt sen bở bùi trong miệng, nhai nhẹ và xiết răng chậm thôi, cho ngấm đến mãn nguyện cái vùng vị giác hảo ngọt thơm trên lưỡi, rồi mới nhẹ nhàng nuốt, cho cổ họng ấp ôm sự ngọt ngào thơm dịu. Rồi nhấp một hụm trà sen. Một hụm thôi chứ không phải một ngụm đâu nhé! Một ngụm là hơi to rồi, chứ một hụm thì rất vừa phải thôi mà còn khe khẽ, róc rách tí teo ở đầu lưỡi rồi mới từ từ mướt trôi vào cổ họng, xuống với bao la cõi lòng .

Tôi thích hình ảnh những lớp sóng đại dương dâng lên oai hùng như hổ, nhưng khi hạ thuỷ đáp xuống thì êm mịn vô cùng. Như thế mới là mạnh, mới là sự ghìm giữ tốc độ và âm thanh đến độ nín thinh. Giống như khi ta nói thầm thật nhẹ. Thực ra, thầm thì càng nhẹ mà âm thanh không thều thào đứt quãng, nghĩa là làn hơi và sự làm chủ thanh âm phải rất mượt và đầy nội lực. Cũng như vậy, bao hồi ức, xúc động và suy tưởng cỡ như một bề sâu nước đại dương, dồn lên mạnh mẽ xiết bao nhưng khi chạm vào trái tim khổ chủ thì dặt dìu, êm nhẹ như nai tơ vô số tội, để chỉ hiện tướng trong tâm hồn ta như dăm hạt mứt sen trần, trong đĩa sứ nhỏ xinh, bên một ấm trà cao cao, trên một chiếc đôn cổ được sắp bày bởi đôi tay của một người con gái cũ xưa của Hà Nội, chính là bà ngoại của tôi ngày ấy.

Vâng, cái đĩa mứt sen trần.

Ngày xưa khi tôi học lớp sáu, một người thầy ngồi bên tôi, chỉ vào cốc nước chanh pha đường bên trong có vài hạt nhỏ. Thầy bảo, biết đâu, trong cốc nước chanh này là cả một thế giới. Biết đâu, mỗi hạt chanh nhỏ này là cả một hành tinh, hay một mặt trời nào. Biết đâu, phần nước trong cốc nhỏ này lại là một đại dương. Nó nhỏ với ta nhưng bao la với những gì đó khác. Nhỏ và to, liệu chỉ là phóng tưởng. Biết đâu, câu chuyện của thầy và em đã lưu đọng và tồn tại trong một đám mây, trôi tới tương lai nào đó mà ở nơi ấy, người ta sẽ nhìn thấy bây giờ của chúng ta đã là quá khứ. Thực thà, tôi không hiểu vì sao thầy lại chọn chia sẻ với đứa học trò nhỏ xíu ngây thơ như tôi những cái nhìn “siêu vi” như vậy. Nhưng quả thật, những gì thầy nói đã mở cánh cửa thị giác trong tôi. Để rồi, tôi bây giờ có cái gì đó giống thầy hệt. Bảo sao, món mứt sen trần không đến một mình. Bé như khuy áo với vài hạt đường, mà nó bê tôi ra giữa ngã bảy, ngã mười, trở về với bao không gian cũ. Tâm hồn tôi như cánh diều thả buông trong gió, như cá gặp lại dòng sông xưa, ngào ngạt thân thương.

Gấp gáp quá, mứt sen ơi, mi bắt ta nhai kỹ nhưng lại ùa về trong ta quá chừng ký ức. Ta nhớ bà ngoại ta còn trẻ, hay mặc bộ vải xoa nhã màu thật thanh tao. Bà là người phụ nữ cao nhất nhà ta đấy. Ta nhớ cha mẹ ta hồi trẻ. Cha ta cao lớn vững chãi, không già râu tóc bạc phơ như bây giờ. Mẹ ta vẫn nấm nhùn như thế, nhưng trẻ và xinh lắm . Ta nhớ meo meo tiếng mèo kêu trong xó bếp. Nhớ cụ mèo đen kiêu hùng, hay gầm gừ và thích ăn rau muống. Ta nhớ chính ta hồi bé, ngây thơ hay đeo nơ, trong veo không õng ẹo. Ôi, ta nhớ vô vàn, phù, mệt quá, chỉ nhớ thôi mà cũng mệt. Bởi ta đã trở về nó thật đấy. Mà đi đâu chả tốn xăng, huống hồ về ký ức .

Viết đến đây, đĩa mứt sen trần lách cách trên bàn xưa, như là cười nhăn nhở. Ác thật. Nó nhử cho tôi thèm, rồi nhử cho tôi nhớ ngày xưa đến te tái linh hồn, mà vẫn đâu được tọt “cái khuy” nào vào ruột.

Nhưng mà, tôi cũng không thèm xơi nó nữa đâu, bây giờ, là sắp năm 2020 rồi. Tôi đi ăn quả mơ, hàng organic, của Thổ Nhĩ Kỳ, mê hơn nhiều!

(17-12-2019)

Chia sẻ:

 

Bức ảnh này không phải của phố Hàng Đào, nhưng lại gợi nhắc ghê gớm về phố Hàng Đào trong tiềm thức của tôi.

Mẹ tôi bảo, mẹ tôi đẻ tôi tại nhà hộ sinh A, phố Ngô Quyền. Vậy là tôi sinh ra ở Ngô Quyền. Sau khi khóc lóc chào đời ở Ngô Quyền, tôi về Hàng Đào và ở đó miết đến năm 20 tuổi. Nhà tôi chếch chếch trông sang ngõ Gia Ngư, có ông ngoại, có bà ngoại, có bố, có mẹ, có 2 em tôi, và hơn 1 con mèo. “Mèo bạn” (chứ không phải “người bạn”) lâu dài nhất của nhà tôi là bác mèo đen. Bác sống 16 năm, bác đen tuyền trừ tròng trắng của đôi mắt quắc sáng tinh anh, và chùm râu cứng như cước. Trong thế giới mèo, bác hẳn là tay anh chị.

Phố Hàng Đào, ôi, biết bao thân thương, biết bao kỷ niệm. Đến nỗi, cứ nhớ về, tôi lại cảm thấy mình như con cá bé nhỏ, bơi sóng sánh trong không gian tuổi thơ. Đến mức, những hạt năng lượng của không gian đó, thời gian đó, như mưa trở về, đầy ngập hồn tôn.

Có một điều, tôi tiếc quá. Đó là dù sống 20 cái tết ở đó, nhưng chưa mùng một tết năm nào tôi chịu dậy sớm để bước ra ngắm phố.

Bọn trẻ ở phố Hàng Đào (ý là “cái bọn” làng nhàng tuổi tôi hồi đó) mùng 1 tết dạy sớm lắm. Năm, sáu giờ sáng chúng dạy, nghịch pháo tép nhức tai, làm giấc ngủ khai xuân của tôi bị quấy phá. Thế mà chúng phá không nổi. Tôi nằm nghe chúng ném pháo lép tép, chuyện trò ca hát, nào là “trên cành cao chim hót Triển Chiêu đi đón người yêu”, nào là “Maria là nhà tạo mốt”, mà mắt vẫn díp tịt. Bọn đấy sướng thật, chúng nó được tận hưởng không khí sáng mùng 1 tết trên con phố vắng tinh khôi. Còn tôi vì mải rúc vào chăn nên khi ra cửa, phố đã nhiều tiếng nói cười. Tuy nhiên, vẫn còn đẹp lắm. Vỏ pháo rắc đầy hè, hồng cả con phố, mùi pháo khen khét thơm thơm. Nhà ai cũng đóng cửa, cửa tiệm nào cũng nghỉ ngơi. Những biển số nhà thong thả đếm bên nhau. Trên hè, có những bé gái đeo nơ, tô tí son môi của mẹ, môi ngường ngượng cong cong cùng ánh mắt kiêu kỳ.

Cũng chẳng năm nào, tôi biết đi chơi giao thừa là gì. Kể ra quả hơi ngượng ????, hồi tôi bé, thấy nói “giao thừa” mà tôi cũng không hiểu nó là mô tê gì. Nhân tiện thấy bà ngoại cúng, có đặt cái ghế đẩu chổng 4 vó để đỡ 1 cái mâm, trên có con gà. Thế nào đúng lúc ấy bà đặt con dao phay cạnh đó. Cái con bé mà mẹ nó bảo là “ngây ngây như dân tộc thiểu số” bèn gật gù chắc mẩm, à, “dao thừa” chắc là cái cơ sự này đây! :))

Và, mỗi khi “dao (phay) thừa” sắp đến, ngoài phố đông vui biết bao nhiêu. Người ta ăn mặc diện, đi qua cửa nhà. Lòng tôi cứ nao nức rộn ràng cả lên. Có bữa 11 giờ khuya rồi, người đi qua đi lại đông quá rồi, mà tôi còn chúi mặt lau lau cái bục cửa nhà, nhìn rõ cả guốc giầy của người lạ. Vì nhà tôi nghỉ hàng muộn, nên mọi việc cũng xong muộn theo. Nhưng, chả sao mấy, tuy cũng thèm đi chơi, nhưng tôi vẫn vui trọn vẹn theo cách của mình. Để mấy mươi năm rồi, bữa lúi húi lau nhà đó vẫn tái hiện thật yêu thương.

Khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong tim tôi những khi năm mới đến, chính là những phút giao thừa thật sự. 57, 58, 59, 00, phố rộn rền tiếng pháo. Dù sợ phải bịt tai, nhưng mà tôi vẫn thích. Bắt đầu là 1 hồi nổ đùng đoàng, sau là mùi pháo xông khắp nhà. Tôi chạy phi lên gác, bác mèo đen cong đuôi, gầm gừ, chắc bác tưởng có binh biến, và tôi đang có hành vi náo động. Kệ, tôi phi lên gác, gọi: “Bà ngoại ơi! Bà ngoại ơi! Giao thừa rồi!”. Tôi nhún nhảy ra chiều vui sướng lắm. Bà ngoại nhìn tôi và lũ em cười thật tươi. Bà luôn dành tặng cho mọi người thật nhiều nụ cười. Nụ cười của bà ấm áp, mềm mại, thanh bình, trấn an sâu lắng những tâm hồn xao động. Trên gác của bà có ban thờ Đức Phật bày hoa thật đẹp, hương thắp thật thơm. Có những chiếc đôn gốm trải khăn ren, đặt bình hoa bà đã nắn nót cắm từng bông violet, bông thược dược, bông cúc vàng tự khi nào. Giây phút giao thừa, dù bao bận bịu, bà vẫn ăn vận trang nhã, đẹp đẽ để đón xuân, để cúng lễ, và để đem đến cho gia đình một cảm thức đẹp đẽ, gọn gàng, sáng nhẹ trong tâm. Còn tôi bây giờ, giao thừa mà tóc không bù cũng là chu đáo rồi đó ????.

Bao nhiêu năm rồi, mà nay, tôi vẫn còn thích tết. Mặc dù rất tiếc ngày xưa đã không chịu dậy sớm, nhưng đến bây giờ tôi cũng không thể nào dậy sớm được. Tôi chỉ làm được mỗi việc là nằm mơ mình dậy sớm, hoặc nhớ về những cái tết xưa, ở phố Hàng Đào, tưởng tượng mình bước ra đường vào buổi sớm mùng 1. Và tôi sẽ ngắm phố phường, chơi với lũ đồng niên hàng xóm, ngắm cái hồn phố mà nom rất giống như trong bức ảnh này cho coi! ❤

(22-1-2020)

(Ảnh trên mạng)

Chia sẻ:

Lại sắp một mùa xuân mới rồi.

Mùa xuân đúng thật là quy củ, tuân thủ tuần hoàn và đổi mới. Đúng mùa thì đến, hết mùa thì đi. Phải đi thì ngay cả một giọt mưa rớt trên hè cũng không để lại. Như người phụ nữ, đứng lên thì áo choàng, khăn, găng, túi, mũ, hay cả mùi hương cũng đều đi theo nàng. Có chăng, chỉ lưu lại chút tương tư.

Nhưng, dù có đi xa mấy, có bận làm mùa xuân cho bên kia trái đất, hay chỉ là nghỉ ngơi trong chốn thời gian. Thì đến mùa, người lại về với chúng ta, tràn đầy đổi mới.

Đấy, trên đời có gì mà ngoài quy luật đến đi, cũ mới. Thế mà lòng mình, lẽ nào còn cũ hoài vậy?

Ừ, phải rồi, hiểu rồi, nhất trí, lòng cũng phải giống như mùa xuân vậy. Phải đổi mới! Phải đổi mới!

Nghĩ đoạn, tôi mỉm cười. Một cái cười hơi mới.

Thực ra, tôi không định nói gì về mùa xuân cả. Nhưng chắc nó biết tôi đang muốn viết, và muốn tranh ít cổ phần, nên xí xọn mở rào xúc cảm của tôi đấy mà.

Thật ra tôi cũng có định nói gì đâu. Chỉ vì sáng nay, trời báo là rất lạnh, tôi tưởng cái rét sẽ khắc nghiệt lắm, ánh sáng sẽ âm u lắm, không khí sẽ sũng sĩnh những hạt mưa nhỏ xiu cơ. Nào ngờ, trời vẫn trong, nắng vẫn nhẹ nhàng, thân thiện làm sao.

Mà cũng không hẳn vì thế…

Dạ vâng vâng tôi biết tôi đang lòng vòng và đáng bực mình lắm lắm. Ủa, nhưng tôi có tội gì đâu! Thực ra tôi cũng không có biết mình định viết gì và nói gì nữa cả. Hình như, tôi thật sự là không định nói gì cả.

Ấy thế mà, tôi lại vẫn muốn nói gì đấy.

Vâng, đây đây, xin lỗi ạ. Giờ còn lảm nhảm thế này thì đến con kiến trên bàn phím cũng bỏ đi chứ ai mà đọc nữa. Nên có nói không được thì tôi cũng phải cố mà nói cho được.

Dạ vâng, thực ra thì không phải là không có gì để nói đâu, là rất có ấy chứ, chỉ có điều, là không biết nói cho ra thế nào, tả cho ra thế nào. Nó, nó là tại, tại bỗng thấy yêu, yêu mới mẻ, yêu nhẹ nhàng trời đất, dạ vâng, cả con người nữa, dạ vâng, cả chính mình nữa. Ôi, vội quá, độc giả sắp đi hết rồi, thôi để cho nhanh thì, thì tôi sẽ viết đại một bài thơ ngay đâyyyyyyyy!

Em ơi, thấy chưa nào
Đất trời tha thiết lắm
Tình yêu luôn nồng thắm
Trong dù một nhành hoa

Nào, lại định cãi ta?
Mắt trời trong trong lắm!
Lòng trời cao thăm thẳm!
Bao la là nghĩa ân!

Mau, giờ hãy ân cần
Nâng niu từng hơi thở
Nhớ đấy, đừng để lỡ
Một giây khắc để yêu

Mau, hãy biết ơn nhiều
Từng mối manh sự sống
Thấy chưa nào, tích cực
Là chìa khoá trời trao!

Mở gì phải hỏi sao?
Hmm
Để mở lòng thanh thản
Để cởi tâm ngã mạn
Và buông những khổ đau

Để hào phóng cho nhau
Yêu thương và san sẻ
Để nụ cười không mẻ
Cười xem nào, he he
he he, he he he

Hehe, hehehe
Hehe, hehehe
Haha, hahaha
Haha, ha ha ha : )

Năm mới, chúc tất cả mọi người luôn tích cực, tích cực, và hạnh phúc ạ! ; )

(8-1-2021)

Chia sẻ:
Bài thơ "Trời sẽ sáng"

Những nốt giáng cuối cùng
Sẽ thay bằng nốt thăng
Những bóng đêm cuối cùng
Sẽ thay bằng ánh sáng

Những tình đời ai oán
Sẽ thay bằng cụng ly
Con khỉ cười khì khì
Ngay sau dòng nước mắt

Những tin vui lượm lặt
Về theo nhau trên đường
Những nếp nhà cô đơn
Kề nhau trong đêm vắng

Ai đêm thâu thức trắng
Sẽ tròn giấc thuỵ miên
Ai mong mỏi an nhiên
Sẽ về nơi suối mát

Tâm hồn ai lưu lạc
Sẽ tìm thấy quê hương
Trái tim thiếu tình thương
Sẽ lấp đầy hạnh phúc

Vết thương sẽ thôi thúc
Nở ra những vần thơ
Tình yêu sẽ bất ngờ
Mọc lên từ gỗ đá

Từ đớn đau vất vả
Toát những giọt kim sa
Từ mắt ai nhạt nhoà
Sáng lên đầy hy vọng

Mọi ước ao trông ngóng
Sẽ thoả nguyện đầy tay
Tóc em sẽ nhẹ bay
Trong nắng thu hồng nhạt

Hãy an lành ca hát
Bởi bên cạnh có ta
Hãy ngủ ngon nhé và
Đừng quên, trời sẽ sáng... 
(26-10-2021)

Để đáp lại câu hỏi của một bạn đọc vì sao lại có hình ảnh “Con khỉ cười khì khì” ở khổ thơ thứ 2, tôi xin phép viết đôi chút tự sự về bài thơ. 🙂

Bài thơ “Trời sẽ sáng”, được viết trong sự chuyển giao tâm trạng của tôi, giữa ưu tư và hy vọng. Sự chuyển mình đó như một nốt luyến nhỏ, trên nền nhạc muôn thủa của nhân gian, nơi ai cũng chứng kiến mình cùng vạn hữu, trải qua muôn trùng những vòng lặp, giữa “đêm” và “sáng”, giữa “giáng” và “thăng”.

Thế, nên trong suốt bài, những hình ảnh thường tượng trưng cho sự đối lập, và chuyển pha giữa các cung bậc, cũng lần lần hiện ra trong tâm trí tôi. Có lẽ, người viết của một bài thơ, lại là người sẽ yếu nhất trong khả năng phân tích tính “logic” trong bài thơ của mình. Chắc tôi cũng như vậy. Thay vì diễn đạt được thật rõ tính hợp lý của mọi chi tiết, tôi lại chỉ có thể thiết tha nói rằng: “Tôi đã cảm thấy như vậy!”. Nếu khi đó, tâm của tôi hướng về logic, có lẽ, nó sẽ tạo ra những câu thơ khác. Nhưng, “Trời sẽ sáng” là bài thơ dường thuần tuý cảm xúc, và tâm cảm của tôi khi ấy, dường tự chọn từ ngữ để biểu đạt mình.

Vì thế, thay vì giải thích sự xuất hiện của “con khỉ” một cách hợp lý, tôi lại xin phép thiên về diễn đạt tâm cảm của mình hơn.

Khi những trầm ưu… “chín tới”, thì, bất khả tránh né, cung đường của nó sẽ là dồn nén trĩu nặng và gồng nén tới mức, tại một ngưỡng nào đó, lại chuyển mình sang pha đối lập. Tại thời điểm, khi những hy vọng bắt đầu loé lên, khi những thanh bình bắt đầu mở cửa, thì, ngay sau những gánh gồng của tâm trí, lại là sự đến bất ngờ của những âm thanh, hay hình hài “đối trọng” với sự trì nặng vừa chớm qua. Nên, để “đối trọng” sự ai oán của tình đời, thì hình ảnh “cụng ly” đã thay thế, vừa vui vui, vừa mang hàm ý hoà bình, hoá giải. Đến lượt con khỉ và tiếng cười khì khì của nó, kiểu khóc lóc nửa cá sấu, nửa “nghiêm trọng” đầy đáng thương của nó, cũng rất nhanh, đã “điểm danh” trong tâm trí tôi. Dù bất kể vì sao, thì nó cũng thật đã xuất hiện, khiến ai đang ưu tư chắc cũng phải bật cười, vì thế, mà…biến veo một miền ưu cảm.

Thế nên mà nó đã xuất hiện, tại “phần ngọn” là lời. Còn phần gốc, đó chính là bởi trong “não” tôi, đã tự hướng mình về phía của nhẹ tênh, của nụ cười, của lạc quan, và của hy vọng. Nhưng, cũng đâu dễ dàng lắm. Khi xoá một màu nâu, dù có tô bằng trắng, thì ban đầu, trắng vẫn mờ, và nâu vẫn đậm. Khi thay giáng bằng thăng, cũng phải có nốt luyến. Phiền ưu cũng có quán tính, nên những mâu thuẫn, những “đừng” và “hãy”, những do dự trong hồn ngay cả khi tâm đã xác quyết, vẫn không ngừng đẩy đưa, chao động. Nên, “con khỉ” đâu chỉ cười khì khì mà thôi, còn có cả nước mắt nữa. Trong câu thơ này, vừa có hình ảnh vui, là con khỉ cười khì khì sau dòng nước mắt, vừa lại không chỉ là như thế. Dòng nước mắt ấy, của con khỉ cũng có, và của…tôi cũng có. Tôi khóc, xong nó cười. Nó cười, và tôi cũng cười…theo nó. Tôi cười sau nước mắt của mình. Đó là giây khắc khi nặng trĩu được hoá giải, “trầm trọng” bỗng… “nhẹ tựa mây”. Đôi khi chúng ta thấy, nhiều phiền não của chúng ta cũng…đáng bật cười lắm, thật mà!

Đương nhiên, ngoài những “sự” trên, thì còn một sự nữa góp phần cho “con khỉ cười khì khì” ở đó, đó là sự thuận vần với “cụng ly” ở dòng trên. Nhưng tới đây, tôi chẳng thể giải thích được hơn nữa. Chỉ biết, rất nhanh trong tâm cảm, con khỉ đã “xẹt qua”, kịp khóc, và lại kịp cười trong tôi như vậy đấy! 🙂

Và, những tương phản giữa nặng và nhẹ, giữa trầm và thăng, tiếp tục đan xen trong những khổ kề sau.

“Những tin vui lượm lặt
Về theo nhau trên đường
Những nếp nhà cô đơn
Kề nhau trong đêm vắng…

…Mọi ước ao trông ngóng
Sẽ thoả nguyện đầy tay
Tóc em sẽ nhẹ bay
Trong nắng thu hồng nhạt”

Tới đây, nốt luyến của tôi, đã không đơn lẻ nữa rồi. Nó đã được thấy, cùng sự chuyển mình rộn ràng, mạnh mẽ, khắp khắp nhân gian. Bây giờ, là sự nương vào quy luật biến dịch của nhân gian, cho chúng ta được thốt lên những lời nguyện mong tốt lành cho nhau.

Nào, cùng tôi đọc khổ cuối nhé:

“Hãy an lành ca hát
Bởi bên cạnh có ta
Hãy ngủ ngon nhé và
Đừng quên, trời sẽ sáng…”

Lúc này, cái vui, niềm hy vọng, đã sắp “chín” như mặt trời trước ngưỡng bình minh. “Ta”, chính là tôi khi này, đã rất xả lòng để đi vào giấc ngủ. Không chỉ đã thấy lại niềm tin yêu, và lạc quan cho mình. “Ta”, còn thấm được sự an lành đến nỗi, tưởng chừng có thể đem nó mà trao đi trong gió, mà ru hời, mà vỗ về, và khích lệ nhân sinh. Vì thế, mà “ta” đã “xin” mọi người “hãy an lành ca hát”, như một trấn an, mà chẳng thể đưa ra một căn cứ “bảo kê” nào, ngoài nói rằng:

“Bởi…
bởi…
bởi bên cạnh có ta”

Cũng không sao! Dù thế nào đi nữa, khi một tâm hồn trở nên an lành, thì tôi tin, nó cũng có thể góp được sức của mình, vào sự an lành và bình yên, cho tất cả…

(28-10-2024)

Chia sẻ:
Bài thơ "Chiều sân ga"
Hà Nội mùa thu
Mai mua bánh cốm
Lặng đi bên chàng
Tiễn đến sân ga

Chẳng ai nói ra
Một lời từ biệt
Mỉm cười trên miệng
Hiu hắt trong tim

Anh cũng im lìm
Và Mai cũng thế
Tiếng còi nhe nhẹ
Giục khẽ bên tai...

Ga chiều đợi ai
Nén từng hơi thở
Đoàn tàu nhắc nhở
Hành khách cuối cùng

Và rồi, cuối cùng
Anh rồi cũng nói
"Anh về Nam nhé
Mai mạnh giỏi nghe"

Tàu chuyển bánh xe
Mai dồn nhịp bước
Không sao thốt được
Mắt chẳng rời nhau

Tàu lướt thêm mau
Bất ngờ Mai chạy
Bàn tay vội vã
Nắm kịp tay anh

"Mai, hãy nghe anh
Mùa thu còn mãi
Mùa thu còn mãi
Hãy về đi em!"

Mai nhìn theo anh
Tàu đi xa mãi
Mai gọi tên anh
Tàu đi xa mãi

Sân ga khuất dần
Lòng anh tê tái
Anh gọi tên Mai
Chẳng gì vọng lại...

Bài thơ này tôi viết năm 2018. Là một trong những bài thơ tôi rất thích. Không hiểu sao, tôi rất rung động trước những mối tình Nam Bắc, mà người anh là con trai Sài Gòn, người em là con gái Hà Nội.

Trong tưởng tượng của tôi, luôn có hình ảnh một người con trai ưu trầm, lặng lẽ, và người con gái nhẹ nhàng, mơ mộng. Họ yêu nhau, một cái yêu ngại ngùng, ngút sâu và khó hiểu, như những gió mùa thu.

Bài thơ là chuyện kể, về một mối tình như thế. Nó là mối tình, mà không phải cuộc tình. Bởi mối tình này không đầy vẹn. Nó như những xúc cảm tình yêu không bến đỗ, táp vào tim vừa ào ạt, vừa chập chờn, mà chính ngay đôi trai gái cũng còn không hiểu nổi. Nó, có chăng là nhớ thương, từ tiềm thức tạc vào tháng 9, vang động tâm hồn người con trai, người con gái, tới tấp nhanh, tới tấp sâu, để rồi chính họ không kịp nhận ra, và dặt dè đối diện.

Để rồi, chẳng ai đã nói, chẳng một lời yêu đã thốt ra. Chỉ có im lặng, cho đến buổi chia ly…

Bài thơ là câu chuyện yêu ngắn ngủi. Đến giây phút cuối cùng chia ly giữa sân ga, khi đoàn tàu đã chuyển bánh và cất lên lời giục, thì tiếng lòng vẫn phong kín trong tim. Hình như, đây cũng là “cách yêu” của nhiều đôi trai gái. Mơ hồ mà day dứt, thiết tha mà không ai thừa nhận. Cho đến khi, cho đến khi, tiếng còi tàu giục giã. Có lẽ khi ấy, nhịp tim và tiếng lòng cũng rần lên như thế, nhưng hai tâm hồn vẫn không thể…

…đánh rơi sự im lặng.

Cho đến khi, cho đến khi…

…đoàn tàu giục hành khách cuối cùng…

…Anh đã bước lên toa…

Thì trong tưởng tượng của tôi, vẫn thấy anh đứng nơi cánh cửa, nhìn Mai, nhìn Mai với ánh mắt như muốn thoát ra ngàn lời. Còn Mai, bước chân hối dần với nhịp chuyển bánh xe, đôi mắt vẫn lặng im nhưng trái tim ùa tới. Nhưng, hình như đâu đó cô vẫn chờ, một phá vỡ, một phá vỡ, nơi nỗi lòng ngăn ngại.

Và rồi, cuối cùng, sự chờ đợi ấy cũng nghe anh nói:

“Mai mạnh giỏi nhé, anh về Nam nghe”

Anh đã mở lời. Nhưng tiếc thay, đó là một lời chia tay, và chúc nhau mạnh giỏi. Điều gì sau lưng đó, đã bị anh ghìm lại. Phải thế chăng?

Nhưng…

Cô gái dù vẫn lặng yên không nói, nhưng bước chân đã thúc giục trái tim. 1, 2, 3, rồi cô bất ngờ chạy, vội vã theo kịp nắm lấy tay anh. Nó có nghĩa, bàn tay anh cũng đã ở sẵn, và đợi chờ Mai tự bao giờ.

Cái nắm tay của Mai như sự vỡ oà xâm chiếm tim anh, khiến nó thốt lên: “Mùa thu còn mãi! Mùa thu còn mãi!”

Nhưng, rồi sao nữa. Tôi cũng không biết, đó là một lời nhắn gửi, một lời hẹn dành cho Mai. Hay sau câu nói “Mùa thu còn mãi”, sẽ chỉ là khoảng trống, vô biên bất tận?

Tại sao, anh không xuống khỏi đoàn tàu? Tại sao? Anh không xuống với Mai, để hai người bắt đầu một câu chuyện tình? Điều gì còn giữ anh lại? Phải chăng, sự phong kín đã in vào tiềm thức, khiến trong giây phút đó, sự vỡ oà cũng chẳng thể lớn hơn một nhịp thốt trong tim. Anh vẫn quay về Nam, để lại Hà Nội, để lại Mai như hình ảnh sau lưng, như những chuỗi ngày mến thương trong tâm cảm. Liệu, mùa thu sẽ nối tiếp trong tình yêu của họ, hay nó sẽ “còn mãi”, nhưng chỉ trong một ký ức xa, trong một niềm thương nhớ…

Tôi không hiểu, và Mai cũng thế.

Để rồi,

“Sân ga khuất dần

Lòng anh tê tái

Anh gọi tên Mai

Chẳng gì vọng lại. . .”

Rồi thì, anh đã gọi tên cô. Nhưng, đó chỉ là tiếng thầm gọi nơi cõi lòng day dứt. Ích gì đâu, tàu đã rời ga. Giữa anh và Mai, chỉ còn một bầu trời khoảng trống. Một cánh cửa cuộc đời, lặng lẽ ngang qua…

Có lẽ, trong cuộc đời, đâu đó có rất nhiều tình yêu dở dang, những tâm hồn do dự. Thậm chí, người anh trong bài thơ này, ai nói chắc, là anh ấy không tự đưa mình vào cảnh chia ly như một phương cách làm nên sự đã rồi, để rồi dẫu day dứt khôn nguôi, vẫn hơn là đối diện. Một đặc tính của tình yêu, của hồn người, cũng chính là khó hiểu, mâu thuẫn, và đầy nghịch lý. Hoặc có lẽ, tình yêu bên trong hai con người này, khuyết chứ chẳng đầy. Hoặc, nó chỉ là thứ tần sóng mùa thu, thiết tha và bất diệt, để rốt cùng, họ chọn yêu nhau trong – hoài – niệm – mà – thôi…

(2-10-2021)
Chia sẻ:
Bài thơ “Dặn thu” 

Nếu mùa thu đang buồn 
Thì cốm cũng bớt xanh 
Nếu hoa cúc vàng chanh 
Nghĩa là thu còn bé 

Lớn nhanh thì sao thế 
Thì cúc sẽ vàng ươm 
Nắng sẽ xâu hạt cườm 
Khen mùa thu xinh quá 

Gió sẽ vờn kẽ lá 
Mỗi lúc mùa thu vui 
Mưa sẽ lã chã rơi 
Mỗi khi mùa thu khóc 

Này thu sao phải khóc 
Để cho phố nhoà mưa 
Cho đôi mắt ai mơ 
màng buồn không duyên cớ 

Thu, sao mà nức nở 
Có phải vì yêu không 
Có phải đã đem lòng 
Thương mến rồi nhân thế 

Nếu thật là như thế 
Hãy để mặc mưa buông 
Trên khắp những con đường 
Đừng ngăn niềm nức nở 

Cho mưa ôm lấy phố 
Cho phố đắm trong mưa 
Yêu mà, ai cũng thế 
Đừng xấu hổ nghe chưa 

Nhưng, xong thì nín nhé 
Đừng mưa mãi đấy nghe 
Cho phố phường lên nắng 
Trẻ con thôi khóc nhè 

Cho ta không buồn nữa 
Vì phơi áo chẳng khô 
Cho ta thôi thẫn thờ 
Khi sân đầy lá rụng 

Cho ta thôi ngờ vực 
Thu hay mình già hơn 
Thôi, nắng lên đi nhé 
Đừng tin theo nỗi buồn.
(11-10-2021)

***

Khi tôi đăng bài thơ “Dặn thu”, có độc giả đã gửi bình luận gồm 4 dấu chấm hỏi ;). Tôi hiểu rằng, độ khó hiểu nào đó của bài thơ đã được “cứu xét” tới.

Chưa biết nên trả lời bạn ra sao, tôi bèn tính, hay mình tự sự đôi chút về bài thơ, để độc giả có thể hiểu hơn ít nhiều.

Thực ra, tôi chưa từng làm một bài thơ với chủ đề định trước. Ngay cả khi đã “dự liệu” được tên bài, nhưng, mười lần như một, tôi luôn phải để trống phần tên bài như một “thủ tục tâm lý”, khi nào viết xong hết, mới được điền vào. Bằng không, tôi sẽ “đóng băng” không thể viết. Có lúc, “buột” ra cái tên hay, nôn nóng gõ vào, vậy mà rồi lại phải xoá đi, không thì thơ không chịu “diễn biến” nữa.

Nên, nhiều bài thơ của tôi rất dài, và hồn cốt (hay cảm xúc) tuy được “phác” lúc ban đầu, nhưng “mạch truyện” lại luôn “cập nhật” tức thời cùng mọi dòng chữ. Nó không là gì khác ngoài “mạch của tâm”. Tất nhiên, mạch của tâm thì cũng phải có “cốt”, nhưng cốt đó nhiều khi, mảnh và ẩn sâu đến độ, làm khó người đọc…là có thật.

Nhưng, cái “kỳ cục” của thơ chứ không phải văn, là người đọc trước khi diễn giải “logic” để nắm bắt “cốt truyện” một cách hiển lộ, thì, trong “địa phận” linh cảm nào đó, người ấy đã “uống trọn” rung cảm tổng quát của bài thơ rồi. Mạch tâm của người đọc, cũng vô hình đồng thuận với mạch tâm của người viết, dù tâm trí còn trì hoãn, hãn muốn một vài ngừng lại, để cắt nghĩa rõ ràng, hay để chút băn khoăn.

Bài thơ “Dặn thu”, cũng là một bài thơ thiên về “mạch của tâm”, tức cảm xúc, hơn là “mạch của trí”. Nên, nó không giống lắm những bài thơ mang một hàm ý cụ thể, một ý nghĩa triết lý, một nhận thức đời sống, hay một ý nghĩa sâu xa, mà nói ra được cho rõ ràng. Thế nên, nếu như được đọc bởi một lực truy cầu ý nghĩa, thì “ý nghĩa” của bài thơ lại như cọng rêu mỏng dưới làn nước, càng chạm, càng lùi lại, chỉ sủi lên những lăn tăn mà thôi.

Thực tình, tôi hay làm thơ vào mùa thu lắm. Đơn giản, vì mùa thu hàm xúc quá. “Dung môi thu” chứa chan ngập tràn, động tí là chạm hồn người. Nay chạm xúc cảm này, mai chạm xúc cảm khác, tuỳ “đôi mắt trần gian” đương thấm đượm những gì.

Bài thơ “Dặn thu”, thì không có gì to tát cả. Tôi còn nhớ khi đó, tôi buồn, một cái buồn…rất thu. Nó không gay gắt khổ đau, mà man mác ủ quanh tâm cảm, làm nên một cô đơn. Rồi, bất giác, cảm thức buồn không chịu ẩn náu nữa, nó buột khỏi tim, tìm đường thoát ra qua tâm trí. Tôi, buột miệng thốt: “Mùa – thu – đang – buồn”. Khi ấy, tôi “làm như”: mình là thu, thu là mình đấy. Trong giây lát, tôi như “tuột xích” một ghìm giữ. Mắt xích đầu bị rớt, vậy là, mắt xích sau cứ thuột luột rơi theo. Tôi bỗng muốn “tuyên bố” với mùa thu, rằng tôi đang buồn lắm. Và, vì nhầm lẫn, mình là thu, thu là mình, nên khi “linh cảm” ùa tới, tôi “nhập vai” vào thu, lúc thì hai trong một, lúc thì, một lại phân hai lúc nào không hay. Như thế, câu thơ đầu tiên gõ xuống:

“Nếu mùa thu đang buồn…”

Đến đây, thì “sóng thơ” nó bắt đầu “e hèm” với tôi rồi. Như sương muốn trĩu xuống bầu không khí. Và “não” tôi lúc đấy, chỉ tìm cách rót cho ra cái tâm cảnh, như người miêu tả một bức tranh tinh thần vậy.

Vậy, nếu “thu đang buồn”, thì sao đây?

Thì…thì…
…thì cốm cũng bớt xanh…

Đâu đó, giống như hồi trẻ con nhỉ, khi những đứa trẻ vặn nhau bằng khôn cùng câu hỏi. Và, ở “chân tường”, một đứa trẻ đáp: “à…ờ…thì…”

…thì cốm cũng bớt xanh. Sau câu thơ, mà tựa như đến sau nhịp “à…ờ…” ngập ngừng đầu tiên đó, thì giờ, bài thơ hết sức đi vào một “luồng ngữ hành”, lần lượt “biểu kiến” từ dung môi tâm cảm tận chiều sâu.

Từ khổ thứ một, đến cuối khổ ba, theo mạch của cả tâm và trí, là sự đi cùng những sắc thái mùa thu. Cặp “nếu-thì” không lặp lại nhiều, nó được nói bằng những cách khác nhau, nhưng cùng mang bản chất ấy.

“Nếu” mùa thu đang buồn, “thì” (ta thấy) cốm cũng bớt màu xanh. “Nếu” (ta thấy) hoa cúc đương vàng chanh, “thì” mùa thu đương “non” lắm, như hồi ức bé thơ của ta vậy. Rồi, “lớn nhanh thì sao thế?”. Thu đương “còn bé”, mà bỗng chốc lớn nhanh, thì có giống như ta, trong thoạt nhanh biến đổi của thời gian, bỗng chốc biến thành một cô gái? Thì, thì sao nhỉ?

…Thì cúc sẽ vàng ươm…

Khi này, cúc không còn vàng chanh nữa, mà ta sẽ thấy, cúc vàng ươm khắp phố cùng phường. Và…

Nắng sẽ xâu hạt cườm
Khen mùa thu xinh quá…

Những hạt nắng chẳng chỉ là hạt nắng, mà sẽ lung linh như những hạt cườm kết lại, trên khuôn cổ, trên vòng tay cô gái đôi mươi. Trong rất nhanh, ta như “điểm lại” hồn thu trong suốt cả 3 thời: quá khứ, hiện tại, và cả tương lai:

…Gió sẽ vờn kẽ lá
Mỗi lúc mùa thu vui…
…Mưa sẽ lã chã rơi
Mỗi khi mùa thu (tức là ta), đang khóc đó…

Ừ, cô gái đôi mươi, thì thoắt vui, thoắt khóc là phải rồi. Trong 3 khổ đầu, hồn ta, và hồn thu, như “bất khả phân” vậy. Nhưng, đến khổ 4, “ta” dường “chiết” ra một nửa tâm hồn, một nửa vẫn trong thu, một nửa lại “đứng ngoài”, để ta thủ thỉ cho chính ta nghe, để ta tự sự, bắt đầu “dặn thu”, cũng, là tự dặn chính mình:

“Này thu sao phải khóc”

Vừa hỏi thu, “ta” vừa như tả thu, cho chính thu xem mình vậy.

“Để cho phố nhoà mưa
Cho đôi mắt ai mơ
màng buồn không duyên cớ”

Vừa hỏi thu, ta vừa như “đổ lỗi cho thu” vậy. Thu khiến mình đẹp mơ màng, cũng khiến ta…buồn không duyên cớ. Ở chỗ này, thật chẳng phân nổi đâu thu, đâu ta. Chẳng biết thu mưa, hay là ta mưa, chẳng biết thu khóc, hay là ta khóc. Hỏi thu sao phải khóc, mà ta mơ màng, bâng khuâng nhìn nỗi buồn của mình.

Thu, sao mà nức nở
Có phải vì yêu không
Có phải đã đem lòng
Yêu mến rồi nhân thế

Mỗi khi, một ý thơ “di chuyển”, nó dường biến hoá cung bậc rất nhiều, và ghé mình vào thực nhiều “nhà ga của ý”. Trên hỏi, thu khóc có phải vì yêu, khiến hiểu như cái yêu của một tình nhân vậy. Đến dưới, yêu đã tự đổi, khẳng định mình như tình yêu nhân thế. Mà, yêu trai gái, chẳng phải cũng là một niềm của yêu nhân thế hay sao. Sự “biến tấu” này, hoàn toàn là mạch của tâm. Nó “logic” theo cách của tâm, mà thực, tôi không thể nào giải thích, hay bày phơi cho đặng.

Và thì..

“Nếu thật là như thế
Hãy để mặc mưa buông
Trên khắp những con đường
Đừng ngăn niềm nức nở”
“Cho mưa ôm lấy phố
Cho phố đắm trong mưa
Yêu mà, ai cũng thế
Đừng xấu hổ nghe chưa”

Giờ, cái bóng của tình yêu trai gái, lại chập chờn trở lại, sóng sa sóng sánh trong lời. Tại đây, mạch của trí dường khiêm mình lắm lắm, nó để mặc tâm cảm tự xuôi dòng, tự trôi, và tự “hồn cốt hoá” chính mình thật linh động, nhưng vẫn luôn “logic” bởi vì tâm cảm tuy biến hoá, nhưng mật thiết tự nhiên, và mềm hơn cách của trí rất nhiều bậc. Vì “mềm”, nên nó dễ bề được “chen ngang”, được đơm ý, thậm chí, được hoà quyện mình trong nhau. Nên, đương nức nở, bỗng chốc “chen” ngay bởi niềm âu yếm ấm áp, vỗ về, và dung chứa. Thương đấy, xong lại như mắng đấy. Mắng đấy, mà lại từ thương đấy: “đừng xấu hổ nghe chưa…” Và, vẫn luôn thế, thu trong ta, ta trong thu, lẫn là lẫn lộn.

Sau khi nức nở đã “thoả thuê”, thì giờ, mới tới khổ căn dặn đầy “cứng cáp”.

“Nhưng, xong thì nín nhé
Đừng mưa mãi đấy nghe
Cho phố phường lên nắng
Trẻ con thôi khóc nhè”
“Cho ta không buồn nữa
Vì phơi áo chẳng khô
Cho ta thôi thẫn thờ
Khi sân đầy lá rụng”

Nào, có phải ta buồn vì phơi áo chẳng khô, hay sân đầy lá rụng? Nói ra đặng chữ “buồn”, và “thẫn thờ”, ta xem như đã đẫm tỏ bày. Nhưng, chẳng chịu tỏ bày cho tới. Mở được chút cõi lòng, ta lại manh nha ghém nó lại. Ra vẻ tại áo chẳng khô, ra vẻ tại sân đầy lá rụng, mà mười mươi, nào đâu phải. “Ta” úp úp, mở mở, mâu thuẫn như chính mình, lúc biến vào thu, lúc lại “thoát hồn” mà thênh thang ưu cảm.

Khi, khổ cuối cùng được viết, cảm thức sũng sịu, mênh mang nức nở, thứ nức nở rỉ rắt như sương như mưa của mùa thu, cũng đóng mình “cái rẹt”. Nắng lên nhanh chóng, hong khô mọi nỗi niềm. Dẫu trước đó có là gì đi nữa, thì cuối cùng, người mà trước đó, còn nhập hồn bất khả phân với mùa thu, giờ cũng như người giũ chiếc khăn quàng, xênh xang phơi phóng.

“Đừng tin theo nỗi buồn”…

Vâng, một phiên cảm xúc, dẫu có được lưu trữ bất kể đâu trong góc tâm hồn nào, và diễn giải ra sao trong vùng thọ cảm. Thì cuối cùng, “lời dặn” của “tác giả” dành cho mình chính là: “đừng tin theo nỗi buồn”. Câu cuối mở ngỏ một ô cửa, dẫn bản thân tới trạng thức “không tin theo nỗi buồn”, tức thứ cảm thọ mà phần nào đó, được nuôi dưỡng bởi nhãn quan “vô minh”. Tại ô cửa này, cả “tác giả”, lẫn người đọc đều có thể lựa chọn: gói lại cảm xúc trước mùa thu, hay sẽ mênh mang tiếp. Hồ như, có đó một lựa chọn, dừng lại trong chơi vơi cảm xúc, hay, cũng giống như điều “tác giả” hướng tới, là khoanh tay đứng nhìn cảm xúc đến đi, cũng như ngắm mùa thu tới lui, trên nền bức toan bốn mùa không đầu, không cuối…

Vâng, trên đây là những san bày, tự sự của tôi không phải về bài thơ “Dặn thu”, mà về chính “tâm mạch” mà tôi từng đi qua, để viết ra bài thơ này. Mỗi bài thơ của tôi, hầu như đều tới với tôi theo cách như vậy. Không chủ đề cho đến khi dòng chữ cuối cùng được viết. Ngay cả tự sự này, nó cũng đi theo mạch của chính nó, mà chẳng chịu cho tôi “thiết kế” đâu. Mong rằng, chút chia sẻ này sẽ khiến bạn đọc hiểu và gần gũi thêm hơn với những bài thơ của tôi, để những bài thơ ngày càng nhận được thêm những bình luận, những “dấu chấm hỏi” mà nói lên rằng: “Tôi đã đọc, và quan tâm bài thơ của bạn” 🙂

(15-10-2024)

 

Chia sẻ:

ABOUT ME

"Khi ngôn ngữ chưa tới, 
thơ đã ở đấy rồi"

"Với tôi, 
thơ là của các vì sao"

(Hạnh Dung)
 

SOCIAL MEDIA

NHẬN TIN QUA EMAIL

BÀI VIẾT NỔI BẬT