Skip to content
Tôi từng nghe ai đó nói: “ghét nhất là thơ”. Rồi, “ghét nhất cái...bọn làm thơ” ; )

Gần đây, tôi được nghe một nhận xét đỡ “ki bo” hơn, tức có giải thích hẳn hoi chứ không phải nêu mỗi yêu ghét.
Đại ý, thơ là cái thứ văn ít tuân thủ ngữ pháp. Thay vì viết câu cú chặt chẽ, đầy đủ thành phần, và diễn đạt ngọn ngành, 
thì “bọn làm thơ” lại dường như không đủ cái trình độ ấy, nên mới tồn tại trên đời cái gọi là thơ.

Họ nói, thì không phải là không có lý . Tuy nhiên, yêu cầu của văn khác yêu cầu của thơ. Quả thật, nếu đem cách thức của
thơ mà dùng cho văn, thì không bao giờ bài văn đạt được mục đích lẫn năng lực tối ưu của mình. Trong khi viết văn, 
người viết không thể dùng “tư duy thơ”. Ngược lại, nếu cứ khư khư “tư duy văn”, thì trên đời sẽ khó có bước đột phá kỳ 
diệu mà đẹp đẽ, của người nương hờ ngôn ngữ mà đáp hồn tới những vì sao xa, hay những cảnh tượng tâm hồn vừa sâu 
lắng, vừa cao thượng.

Tư duy văn, chính là mạch não, hay lối vận hành tư duy cùng nhãn quan của người viết trong thời điểm “vận bút” (mà 
thực chất là vận não), để trình bày cho đặng một nhân sinh quan, một vấn đề, hay sự nghĩ cảm nào đó, sao cho người đọc
có thể theo dõi và quan sát nhận thức của tác giả.

Thơ, thì có cái giống, và cũng có cái khác. Cái giống là, thông qua ngôn từ, người đọc cũng có thể theo dõi và quan sát
sự biểu đạt của tác giả. Nhưng, cái khác ở chỗ, “mạch não” của nhiều kẻ làm thơ, lại là một nẻo gần như khác hẳn. Bất kỳ
ai, khi não đang trong “chế độ” làm thơ, hay nói cách khác, là cảm xúc đương “tràn trề nhãn quan thi sĩ” , thì cái lúc ấy, 
“dẫn truyền thần kinh” đã vận hành theo cách khác rồi. Mọi chuyên chú vào sự chặt chẽ nơi cú pháp nếu không thể lắng 
xuống, người viết sẽ không thể dẫn mình vào “tư duy thơ”.

Tư duy thơ, thì ngoài tư duy ngôn ngữ thông thường, nó còn phải đáp ứng cho “khổ chủ” một năng lực tức thời, là lột tả 
đầy ắp và sống động “cảnh giới tâm hồn” mà người ấy đang ở trong. Thay cho thiên về mô tả khách thể, họ thiên về mô tả 
tình trạng cảm thức nơi mà chủ thể đang quan sát, và hoà quyện sâu sắc với khách thể ấy. Ví dụ, để mô tả sự ngập tràn 
rung động không khí, nếu viết chặt chẽ là “Không khí đang rung động tràn ngập”, thì chỉ đưa người đọc vào sự cảm nhận 
giống như “tra từ điển”, tức là tra cứu lại trong não của mình kinh nghiệm về tình trạng tương tự của không khí, sau đó, 
mới khởi lên cảm xúc nhợt nhạt. Nhưng nếu dùng “tư duy thơ”, tác giả có thể sẽ viết khác hẳn, không cần nhắc đến nửa từ
không khí, mà vẫn đưa thẳng người viết vào trạng thái ngửi hít oxy tức thời mà không hay .

Điều hay, là ở chỗ, người tác giả lại không hề vướng mình trong chủ định dẫn người đọc đi đâu, về đâu cả. Bản thân 
người ấy cũng chan chứa trong xúc cảm của mình, và chỉ đơn thuần muốn trút ra bằng lời.

Khi đó, họ sẽ không tài nào “chọn” ngôn từ theo cách vận hành của văn xuôi, tức thứ văn “xuôi dòng tư duy” được nữa. 
Thứ mà họ đang “xuôi dòng” đã phức hợp hơn nhiều. Vừa là tư duy, vừa là tâm cảm, vừa là sự huy động phi thường sức 
biểu đạt và cảm thốt, tựa hồ như “bê” nguyên một mặt hồ vào trong đôi câu chữ, “bê” nguyên một cánh chim đang đong 
cả bầu trời vào vỏn vẹn trong một góc vở, hay, “bê” nguyên một tình yêu sâu lắng không kể xiết, vào trong đôi từ bâng 
quơ bên nhau mà thôi.

Khi đó, cái tài tình là, người đọc sẽ chẳng hiểu vì sao, mà khi đọc lên những vần thơ này, mình lại có nhiều rung cảm đến 
thế. Cứ hồ như, cái năng lượng, cái rung động của tình trạng tâm mà người viết đã có, nó được hiện hài song song nơi 
người đọc, mà dường rất…chẳng tại ai vậy.

Muốn truyền đạt như thế, người viết buộc loại bỏ thật hào phóng những từ ngữ mà họ cho là “dư thừa”, chỉ chắt lấy 
những gì cô đọng nhất, hàm súc nhất. Năng lực ngôn ngữ khi này không còn giống người đi bộ hay chạy marathon nữa, 
mà giống vũ công ballet chỉ nhón trên đầu ngón chân vậy. Diện tiếp xúc với mặt đất gọn lại chỉ bằng một mũi chân,
nhưng toàn bộ vũ điệu lại thăng hoa trên mũi chân ấy. Cũng vậy, có khi, sự nương dùng từ ngữ “thoái suy” đến tối thiểu, 
nhưng rung cảm và biểu đạt lại mở đến cực đại. Mạch ngôn ngữ, hay tư duy não lúc này đã cực kỳ sâu lắng. Sự gắn kết 
và “lô gích” giữa các nhịp tri cảm không còn phụ thuộc những thành phần ngữ pháp, mà chính là mạch của tâm. Mạch 
của tâm tự đưa vào tay người viết một trật tự, khiến họ tự động chiết xuất ra những từ ngữ mà dù không nghĩ ngợi nhiều 
theo lối tư duy cú pháp, nó vẫn trật tự đầy mềm mại. Và chính mạch của tâm đó, làm nên những cây đào rất sâu vào vùng 
ngôn ngữ, khiến nhát tư duy trở nên sâu, sâu nữa, sâu nữa, mà “hệ quả” của nó lại là sự phả lên bề mặt những từ ngữ 
thanh nhẹ, mà mênh mông trắc ẩn.

Thế nên, không phải là “bọn làm thơ” không tuân thủ ngữ pháp đâu. “Chúng” tuân thủ theo một cách khác, để rồi, từ này 
xếp cạnh từ kia, âm điệu này bên âm điệu kia, tự nhiên như nhịp đập bên trong, mà cứ tự bày phơi cõi tâm, và cũng “mời 
mọc” ta phiêu phiêu theo thứ linh cảm mà khi ấy, đã chẳng còn là của riêng ai…

Giờ, ta cùng thử đọc một câu thơ của nhà thơ Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến” mà chúng ta đã học ngày xưa nhé:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Đấy, nào ai nỡ đem câu thơ này diễn xuôi cho đề huề cú pháp đâu. Vì chỉ có như vậy, nó mới đẹp, mới buồn, và ngân 
mãi trong hồn ta, phải không… 

(2-10-2024)
Chia sẻ bài viết này:
0 0 đánh giá
Article Rating
Đăng ký
Nhận thông báo
guest

0 Comments
Cũ hơn
Mới nhất Most Voted
Inline Feedbacks
Xem tất cả

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

ABOUT ME

"Khi ngôn ngữ chưa tới, 
thơ đã ở đấy rồi"

"Với tôi, 
thơ là của các vì sao"

(Hạnh Dung)
 

SOCIAL MEDIA

NHẬN TIN QUA EMAIL

BÀI VIẾT NỔI BẬT

0
Would love your thoughts, please comment.x